'cookieChoices = {};'

Tuesday, September 30, 2014

Có ai trả lời được?

Mọi đứa trẻ đều muốn lớn lên,còn người lớn thì bắt đầu muốn bé lại
nhưng ai rồi cũng phải già đi như vé của chuyến tàu một chiều mãi mãi,

và chúng ta chấp nhận nó bằng mỗi ngày trải nghiệm cho sự sống bình yên

Thời gian không phải đơn giản chỉ có chuyện nhớ - quên là ngày mai thức dậy nghe ai đó gọi và thấy mình vẫn tên như cũ là cứ mở mắt ra gặp ngày còn nhắm mắt vào là đêm - Ừ, thì ngủ! là nghĩ đến dỗi hờn đặt lên giữa hai vai

Thời gian có khi giống ý nghĩa của một con đường dài đi hết mới biết không có tận cùng để mà bước tiếp như là thấy mình phải dừng lại bên sườn đồi mà ngủ thiếp nên đào một chiếc hố và vùi với đêm sâu

Mọi người lớn đều hỏi “tuổi thơ đã đi đâu?” còn mọi đứa trẻ đều muốn biết “bao giờ mình mới lớn?” 

Chúng ta cứ mải mê bước trong cõi mênh mông vắng rợn để hỏi những điều mà chẳng thể đổi thay

Thực ra, chúng ta đều phải đi qua từng ngày từng tuần, từng tháng và từng năm mà tất cả đều bắt đầu bằng mỗi giây phút ai cũng sợ thời thanh xuân rất sáng rồi như ngọn pháo bông sẽ tắt vụt mà đâu biết rằng mỗi hơi thở cũng là những khoảnh khắc được dùng để sống cho một số phận đã định danh

Ai rồi cũng phải lớn lên, rồi già đi chứ làm gì có thời gian mà để dành cũng như cuộc sống nếu ta từ chối thì đâu thể đưa nó cho ai khác cũng như người lang thang đi vào con đường lạc không biết khi nào kết thúc thì việc gì phải đếm đo?


Chúng ta càng không có nhiều tháng ngày của tuổi trẻ để mà cứ mải miết với nỗi lo ngày mai có mưa rét ? Và khi nào tóc bạc ?
Liệu sau đêm nay thức dậy soi gương thấy mình có khác?
đâu thể tính hết được cho tương lai !

Chúng ta mỗi người được tặng cho một số phận để đi hết (như trên con đường dài)
trẻ thơ – khôn lớn – trưởng thành – rồi già đi...để nhường lại khoảng trống cho những con người khác sao không như người lang thang – chẳng có gì để sợ mình đi lạc
ta sẽ thấy trong cuộc đời mỗi khoảnh khắc đều mang một ý nghĩa rất riêng

Mọi đứa trẻ muốn lớn lên đều phải đánh đổi bằng việc từ bỏ sự hồn nhiên
còn người lớn nếu muốn đừng già đi thì phải đánh đổi bằng phần đời sẽ chẳng được sống nhưng sao không hiểu rằng chúng ta đang nhặt từng ngày để ghép thành một cuộc đời rất rộnglàm con trẻ chắc gì đã cảm nhận được ý nghĩa của thời gian?

Mọi đứa trẻ đều muốn lớn lên vì chúng muốn thử sức với gian nan còn người lớn muốn bé đi để làm gì? Có ai trả lời được?
Nếu cho chúng ta tiếp tục song hành cùng số phận để đi đến tuổi già phía trước
hoặc chiếc vé chỉ có một chiều về quá khứ - ta có chọn từ bỏ hiện tại với tương lai?

Thật ra, phải cảm ơn thời gian vẫn trôi đi vì đã cho chúng ta đủ tháng năm để hoàn thiện một hình hài trong mỗi phút giây qua chính là cuộc đời mà ta đang được sống như là tim bạt trong chiều gió lộng còn biết mỉm cười vì nó vẫn đập những nhịp tự nhiên.

Vậy hãy chấp nhận mình già đi bằng mỗi ngày trải nghiệm cho sự sống bình yên!


NTP

Người ta dễ buồn


Có những buổi sáng thật tồi tệ, hẳn như việc vừa thức dậy đã bị ném thẳng ra khỏi cuộc đời ai đó, không giải thích, không cơ hội, không luyến lưu. Ta như được thả rơi tự do từ không trung rồi 
rớt xuống một cách thảm hại giữa phố, không ai thân thích, không người nào quen.

Rồi lại cũng chỉ mình ta chập chững lần dò để tìm lại ngày xưa. Nơi chỉ còn những điều đã cũ. Nơi nụ cười không thể chạm lại và hạnh phúc không thể sát gần. Nơi mà (những) người nào đó đã rời đi và chúng ta cũng không có tư cách để thuộc về thêm lần nữa. Mọi thứ, đã hóa cũ xưa.

Có khi nào bạn thấy thành phố quá chật hẹp với kí ức của mình nhưng lại quá rộng lớn để gặp lại những hình dung cùng sở hữu những mảng hoài niệm to đùng với bạn chưa? Hết người lạ, rồi người quen, tất cả cứ dần rời đi như những người ngang qua nhau giữa phố. Đôi lúc còn dửng dưng đến độ, ta không được chào.

Bạn bè, bẵng một dạo không liên lạc đã thành bạn cũ. Tình, xoay lưng một cái đã thành người xưa. Chuyện, ngoảnh đi ngoảnh lại; người, lâu lâu mới nhớ - tất cả rồi sẽ thành ngày hôm qua. Để rồi, người đây – ta đó, có muốn cũng chẳng thể vít lại thời gian để sống lại những năm tháng ấy một lần.

Có một ngày, những thứ đã từng, những người đã gặp, những tình đã yêu… mọi thứ xoay ngang rồi thi nhau va đập vào thành trí nhớ. Lý trí bỗng dưng nguội lạnh và trái tim ngã ngửa giật mình. “Thì ra, chúng ta đã từng quen…”

Rồi cũng chỉ thế thôi, tình cờ ngược đường ngang qua nhau, những xáo trộn lại trở về, phẳng lặng, và bình yên như vốn dĩ. Người vẫn là người, và ta vẫn là ta. Chẳng ai còn là của nhau được nữa.

Người ta dễ buồn vì những điều đã cũ, cũng bởi họ tiếc chính mình của những ngày xưa. Cuộc đời vốn có những cái giật mình chỉ để ta lớn lên. Và cũng để nhận ra ta đã từng là một kẻ nhẫn tâm nhưng đầy cô độc.

Nhớ thế, buồn thế, nhưng cũng chỉ đến thế mà thôi…

Bởi vì cũ rồi, nên chỉ đành khép lại, có cố cũng chẳng thể làm gì hơn. Mưa rơi xuống đất chẳng thể quay lại trời, nói yêu rồi cũng không thể đành lòng mà rút lại. Người đi rồi, cứ mặc người đi…


TC

Chàng trai năm ấy...


1. Tin nhắn tới từ Tùng Lâm, cậu nói sẽ có mặt ở đây lúc 8h, và hỏi xem có thể gặp tôi lúc đó trong khoảng thời gian cậu chuẩn bị lên máy bay vào Sài Gòn hay không? Tôi bỏ dở mớ công việc còn tồn
 đọng và lao đi. Dù 8h tối mới tới giờ cậu ấy tới đây, nhưng tôi vẫn muốn tới trước, để đón khoảnh khắc nhìn cậu xuống xe, như ngày này rất nhiều năm trước kia.
Tôi phải lòng Lâm, ngay từ những ngày ngồi chung bàn hồi cấp III. Tùng Lâm nổi bật, học giỏi và có giọng ca tuyệt vời. Riêng tôi, tôi thích nhìn lúc cậu ấy bước lên bục giảng trả bài kiểm tra, hay những lúc cả lớp cổ vũ cho cậu ấy trong những đêm văn nghệ. Tình cảm có phần trẻ con, nhưng mãnh liệt, nó đeo đuổi tôi suốt rất nhiều tháng năm sau này, khi mà chúng tôi đã ra trường, đi làm và sống ở nhiều thành phố khác nhau.
Tôi vẫn thầm trách mình, sao ngày đó không can đảm thêm chút nữa, giống những cô gái thích cậu ấy, bày tỏ một cách thật lòng. Tôi cứ âm thầm và lặng lẽ, là một người bạn cùng bàn, sớm sớm đến trước cậu ấy, nhìn cậu ấy từ từ bước xuống dãy bàn cuối, và ngồi xuống bên cạnh tôi, hình như với tôi, thế là đủ. Đủ cho những buổi chiều tan lớp, cậu ấy mỉm cười với tôi và cùng đạp xe ra về, nếu không vướng 1 vài lớp học thêm nào đó.
Tôi lúc ấy, chỉ âm thầm và lặng lẽ, khích lệ cậu ấy trả lời những bức thư để trong hộc bàn của các bạn gái lớp bên, trêu đùa một chút, rằng phải tập dần cho quen, sau này nổi tiếng không bỡ ngỡ. Cậu cười, cốc đầu tôi cái, rồi mỉm cười với những dòng thư vừa mới chuyển tới.
Cậu không biết rằng, tôi cũng mong, một lần được như các bạn gái ấy, nói thật to rằng tớ thích cậu, hét thật to tên cậu mỗi khi thấy cậu đi dưới sân trường, những lúc gặp cậu ở thư viện, ở căng tin…
Thế rồi học tập, thi cử cuốn chúng tôi đi. Chợt một ngày, khi tán phượng bắt đầu trổ lá xanh mát, chuẩn bị nhú những nhành hoa cho mùa mới, tôi nhận được tin Tùng Lâm và cô bí thư xinh xắn C2 là một cặp, từ những người bạn cùng lớp.
À, phải rồi, 2 người song ca cùng một tiết mục trong đợt văn nghệ vừa rồi, nhanh tới vậy sao. Tim tôi chợt rung lên, rất khẽ, một nhịp chân cũng chao đảo theo. Suốt thời gian sau đó, tôi vẫn âm thầm, lặng lẽ đi bên cạnh hai người, đôi khi đứng ra giải quyết cả những giận hờn của cả hai bên. Tôi bằng lòng với vai trò đó của mình, mà chẳng đòi hỏi gì thêm.
Ngày chia tay, khi chuyện tình cảm của Lâm và cô bí thư đã đi đến hồi kết, tôi vẫn không đủ can đảm để nói ra lòng mình. Tôi chỉ ghi vào trang lưu bút chúc cậu thành công, và khi cậu có buổi biểu diễn đầu tiên tôi sẽ tới chúc mừng. Vậy mà 7 năm trôi qua nhanh chóng, cậu giờ đã thành ca sĩ khá nổi tiếng, với những ca khúc được các bạn trẻ yêu mến. Buổi biểu diễn đầu tiên của cậu ấy, tôi có tới thật, đứng trong hàng ngàn fan đang hô to tên của cậu ấy, nhưng hôm đó, tôi không báo cho cậu ấy biết…
Vẫn là tôi, lặng lẽ và âm thầm như thế.
Tới cả khi, Lâm đi hát thường xuyên ở Hà Nội, cậu ấy hay rủ tôi đi cùng, vẫn che chung chiếc ô khi tới quán café quen thuộc, tôi vẫn chẳng thể mở lời. Những lúc ánh đèn sân khấu vụt sáng, lúc Lâm say sưa trong tiếng nhạc là lúc tôi lại mơ màng về những ngày mình được đi bên cạnh cậu ấy, và nói ra tình cảm của mình. Nhưng, chỉ đơn giản có thế. Rồi cuối buổi, tôi lặng lẽ đứng ra xa một chút, tay cầm ô, nhìn Lâm ký tặng cho fan, nhận hoa và quà từ họ, rồi cùng ra về.
Thường Lâm sẽ hỏi tôi, nên trả lời fan như thế nào, món quà này nên để đâu trong căn phòng của cậu. Tôi đáp từ tốn, và trả lời mọi thắc mắc của cậu ấy, mọi tình huống mà cậu cảm thấy khó khăn, duy chỉ có tình huống trái tim tôi đang gặp phải thì không sao tôi giải quyết cho nổi.
Cho tới khi, cậu quyết định vào Sài Gòn lập nghiệp, để có thể phát triển hơn sự nghiệp ca hát của mình, thì tôi vẫn lặng lẽ đi bên cạnh, ủng hộ cậu ấy hết lòng. Dù rằng, tôi sẽ rất buồn, khi biết mình ở đây, một mình với Hà Nội rộng lớn này, mà không còn bóng dáng cậu bạn thân năm nào.
Nhưng, tôi cũng tin vào quyết định của cậu ấy. Khi trưởng thành, người ta có biết bao mối lo toan cho công việc, sự nghiệp của riêng mình, cậu ấy và tôi, rồi đến lúc cũng phải đi trên những con đường khác nhau. Tôi chỉ mong sao, tôi vẫn có thể được dõi theo những bước chân sau này của cậu ấy, đủ biết rằng, người mình thương yêu hạnh phúc và thành công.
2. Tôi lúc lúc lại xem đồng hồ, chỉ mong tới điểm hẹn. Cô bạn nhỏ ngồi cùng bàn trước kia, giờ đã đi rất nhiều nơi, nhưng chọn Hà Nội là điểm dừng chân lâu nhất. Tôi vẫn giữ thói quen, tới Hà Nội dù chỉ một lúc cũng nhắn tin để gặp bạn ấy.
Bao năm, bao thứ đổi thay, mà sao tôi vẫn thấy bình yên vô cùng khi bên cạnh cậu ấy. Được bên cạnh cậu ấy, cười nói vô tư không chút gượng gạo xã giao. Năm xưa, đã bao lần tôi muốn nói với Hằng rằng tôi nhớ cậu ấy nhiều, nhiều lắm, mà không thể.
Ngay cả khi, rời Hà Nội vào Sài Gòn lập nghiệp, tôi vẫn không thể nói ra tình cảm của mình. Những ngày đầu khó khăn và chênh vênh tại một thành phố mới xa lạ, nỗi nhớ nén chặt trong tim làm động lực tôi cố gắng không ngừng. Chẳng biết vì cớ gì, nhưng với tôi, chỉ cần được đi bên cạnh cậu ấy, lắng nghe một vài câu chuyện cậu ấy kể, nghe cậu ấy lý giải những thắc mắc của mình, thế là đủ.
Tôi thấy bóng cô bạn từ xa, cái dáng hơi gầy, làn da có phần rám nắng sau những chuyến đi, nhưng mái tóc vẫn dài và đáng yêu như thế. Tôi vẫn không thể quên, mùi hương trên mái tóc ấy, những ngày đi bên cạnh tôi từ khi còn đi ngồi chung bàn năm ấy.
Đã 7 năm rồi, thời gian quả là thần kỳ, làm mờ đi nhiều thứ, song lại làm dậy sóng cả một trời ký ức. Hằng nhận ra tôi, quay lại nở một nụ cười, thay cho lời chào. Ôi, nụ cười, trăm phần đáng yêu hơn lúc xưa.
- Ca sĩ, dành cho tớ mấy giờ đây? Hằng tươi cười hỏi.
- Uh, hẳn 1h nhé! Thực lòng, tôi mong, 1h ấy kéo dài hơn 10h thì tốt hơn.
- Vậy mình đi đâu!
- Bờ hồ, kem nhé! Hằng cười, tôi cũng cười theo.
Chúng tôi đi dạo một vòng bờ hồ, mỗi đứa đều ăn tới que kem thứ 2 và cười lớn, lá xào xạc dưới chân, mùa này cũng là mùa chia tay khi bằng lăng và phượng chen nhau tô thắm cả góc trời. Hằng đi bên cạnh, gót hài nhỏ cứ lặng lẽ và bình an, tôi nhiều lúc cứ muốn bước tới nắm đôi tay ấy, mà lại thôi. Còn vài phút nữa là tôi rời thành phố này rồi. Hằng quay lại:
- Uhm, ca sĩ muốn nói gì với tớ sao?
Câu nói ấy như hồi chuông rung khe khẽ, khiến tim tôi lại xao xuyến 1 nhịp.
- Có thể ngừng gọi tớ là ca sĩ được không? Tôi tránh câu hỏi của Hằng. Cô bạn chỉ cười.
- Gọi tớ là Lâm, như ngày xưa thôi nhé!
- Uh, như ngày xưa!
- Sài Gòn dạo này buồn tẻ quá, cậu có muốn vào đó vài ngày, tiện thay đổi không khí không? Chợt, tôi lại muốn lên tiếng.
- Không, tớ ở đây thôi! Hà Nội chờ cậu, khi nào mỏi mệt, có tớ ở đây, nhé!
- Hằng ơi…
- Thôi nào, nghệ sĩ của tôi ơi, ra sân bay thôi.
Chúng tôi không nói gì suốt chặng đường sau đó. Tôi lên xe ra sân bay, còn Hằng ở lại, chờ chuyến bus cuối cùng để trở về nhà. Hằng chỉ vẫy tay, cười thay cho câu chào.
Tôi cũng thu mình lại, khẽ nén tiếng thở dài, khi không biết, những cuộc gặp gỡ sau này, tôi có thể nói ra những gì mình đã giấu bấy lâu nay hay không, hay lại như lúc này, chẳng thể nói rằng, để lại Hà Nội một niềm nhớ quá dài, là điều thật khó khăn. Xe lăn bánh, tôi vẫn thấy bóng cô bạn ở đó, lặng lẽ dưới ánh đèn đường.
3. Nghe câu nói ấy từ Lâm, không hiểu sao tôi không muốn trả lời, tôi vẫn muốn ở đây lặng lẽ chờ cậu ấy chẳng vì lý do gì cả. Chỉ vì tôi mong ước mình là chốn bình yên cuối cùng, dù cậu ấy ngoài kia có bão giông ra sao. Nghe chừng có vẻ thật xa xôi, nhưng, một khi dành tình cảm cho ai đó, người ta mới thấy mình có thể làm được tất cả, kể cả việc chỉ đi bên cạnh, như những đường chạy song song.
Không có lời hứa nào, cũng không có câu chuyên nào được mở ra, nhưng lòng tôi nhẹ nhõm hơn. Hà Nội vẫn yên lặng như thế, Tùng Lâm ạ.
Tôi vẫn tiếp tục công việc của mình, cuối tuần, sẽ tranh thủ đi một vài nơi, khiến bản thân mình bận rộn hơn. Sáng đầu tuần, vẫn là thói quen theo dõi những trang báo mạng mới, xem thông tin của Lâm. Tôi mừng, vì cậu ấy sống tốt, và công việc ca hát cũng phát triển thuận lợi. Dường như có những mối dây liên hệ kỳ lạ giữa chúng tôi, tôi cảm nhận vậy. Vì rõ ràng, tôi mong những lần gặp gỡ ngắn ngủi với cậu ấy – những lần Lâm về Hà Nội.
Tuần tới, có một buổi họp fan của cậu ấy ở đây. Thông tin mới được đăng tải. Vé sẽ được bán kết hợp cùng chuỗi cửa hàng café sách mới mở. Tan làm, tôi rẽ qua hiệu sách để mua tấm vé tham gia. Trong hàng người tới mua, tôi và Ly cô bí thư xinh đẹp C2 năm nào nhận ra nhau. Ly thay đổi chút ít, mái tóc dài trước kia đã ngắn ngang vai, ôm trọn khuôn mặt sáng lấp lánh. Chúng tôi ngồi lại quán café sách và trò chuyện.
- Hằng không thay đổi mấy, tóc vẫn dài như trước!
- Hi. Uh, tớ thấy chưa muốn cắt.
- Lâm từng bảo rất thích con gái tóc dài, giống Hằng đó. Trước đây, khi chia tay, Lâm nói Lâm nhận ra cậu ấy dành tình cảm đặc biệt cho một người bạn lặng lẽ bên cạnh cậu ấy, giờ tớ biết là ai rồi – Ly tiếp lời.
- …
- Tớ biết, hai người vẫn hay gặp nhau thường xuyên, Lâm không nói với Hằng sao. Câu nói của Ly ám ảnh tôi cả ngày dài sau đó.
Từng kỷ niệm những ngày tháng học sinh dội về trong ký ức tôi. Nụ cười vô tư, ánh mắt và giọng hát ấm áp của Lâm. Những ngày tháng trong vắt, không bị toan tính và áp lực cuộc sống xoay vần. Những ngày thật vui và hạnh phúc. Đáng ra, tình cảm ấy tôi nói ra sớm hơn, có lẽ, sẽ thấy nhẹ lòng hơn lúc này biết bao.
Tôi bấm số, gọi cho Lâm. Giọng cậu hơi bất ngờ, nhưng cũng đồng ý với đề nghị của tôi, sẽ gặp Lâm sau buổi họp fan.
Hà Nội một ngày rất khác
Có hai bóng người chầm chậm che chung chiếc ô khi đi trên con đường thơm mùi hoa sữa. Mùa thu về trong lòng, dịu ngọt như lời Hằng mới nói ra:
- Tớ nhớ cậu, nhiều thật nhiều!
Hai bàn tay đan vào nhau siết chặt, 7 năm như hai đường thẳng song song. Cuối cùng cũng chạm tay nhau rồi. Những nỗi nhớ đong đầy vắt dài theo năm tháng, và ngừng lại nơi đây, tối Hà Nội vào thu trong mát. Như tình cảm chúng ta đã dành cho nhau suốt những tháng năm qua vậy.

Con Mèo Ma

Với một người trẻ tuổi, thật là một sự khổ cực khi mang vào mình những sở thích xa hoa, những ước vọng lớn lao, những phong độ quý phái trong gia đình, nhưng lại không có một đồng xu dính túi, cũng chẳng có nghề nghiệp gì khiến cho người đó kiếm ra tiền. Thế mà cha tôi, một người vô tư lự, đã đặt lòng tin quá mạnh vào sự giàu có và lòng tử đến của Lord Southerton, anh cả của cha tôi (ông này sống độc thân) đến nỗi ông cứ đinh ninh rằng tôi, đứa con duy nhất của ông không bao giờ phải làm việc để mưu sinh cả. ông cứ tưởng tượng rằng nếu không có chỗ làm cho tôi ở các hội đồng hành chánh của các cơ sở Southerton thì chắc chắn người ta sẽ mời tôi vào một chức vụ trong các cơ sở ngoại giao là những ngành vẫn còn là các đặc hữu của giai cấp được ưu đãi của chúng tôi. Cha tôi đã chết quá sớm nên ông không thể đo lường được sự sai lầm trong các tính toán của ông. Cả ông bác tôi lẫn nhà nước chả ai thèm bận tâm đến tôi một chút nào. Thỉnh thoảng có một cặp trĩ hoặc một lồng thỏ, đó là tất cả những thứ tới tay tôi để nhắc cho tôi nhớ rằng tôi được thừa hưởng tài sản Otwell, một trong những tài sản lớn nhất ở Anh quốc. tôi còn độc thân, tôi sống tại Luân Đôn, tôi ở một căn hộ trong khu nhà Grosvenor, và suốt ngày tôi đi bắn chim bồ câu và chơi pô lô ở Hurlingham. Hết tháng này sang tháng khác, các khó khăn về tài chính của tôi cứ chồng chất lên. Sự suy thoái đang rình rập tôi; mỗi ngày nó càng hiện rõ hơn; nó là điều hoàn toàn không thể tránh khỏi.
Tôi cũng căm hận sự nghèo khổ của tôi như là sự sung túc trong gia tộc tôi, ấy là không nói tới sự giàu sang vô tận của Lord Southerton. Sau ông bác tôi thì người có họ gần nhất là Edward King, cháu của cha tôi và là anh em con chú con bác với tôi người đang sống một cuộc đời phiêu lưu ở Brasil và vừa trở về nước Anh để hưởng thụ sự giàu có. Không bao giờ chúng tôi biết là ông ta đã kiếm tiền bằng cách nào, nhưng hẳn là ông ta phải có rất nhiều tiền, vì ngay sau khi về nước, anh ấy đã mua tài sản của gia đình Greylands ở gần Clipton-on-the-Marsh, trong vùng Suffolk. Trong năm đầu tiên ở Anh quốc, ông ta chẳng quan tâm gì đến tôi hơn là ông bác keo kiệt của tôi; và rồi một buổi sáng mùa hè, tôi nhận được mộtlá thư mời xuống chơi lâu đài Greylands ngay ngày hôm đó. Trong khi tôi đang băn khoăn về sự phá sản sắp tới của tôi, lời mời này đối với tôi thật sự là sự hiện thân của một ân huệ của Thượng đế. Chỉ cần tôi tạo được những giao tình tôt đẹp với ông anh họ chưa biêt mặt này, tôi sẽ moi được chút đỉnh đây; vì danh dự của gia tộc, ông ta sẽ không để tôi suy sụp. thế là tôi sai anh hầu phòng sửa soạn hành trang và buổi chiều thì tôi khởi hành đi Clipton-on-the-Marsh.
Sau khi sang xe ở Ipswich để lên một chuyến xe lửa chạy trong vùng, tôi xuống một ga nhỏ vắng hoe, nằm giữa những đồng cỏ lởm chởm, với một con song chảy uể oải giữa các bờ cao lầy bùn uốn khúc quanh co trong thung lũng; thủy triều đã chứng tỏ ảnh hưởng của nó tới tận nơi này. Không có một cái xe nào đón tôi cả (sau đó tôi mới biết rằng điện tín của tôi đã bị trễ). Tôi đành phải thuê một cái xe ở quán trọ gần đó. Trên đường đi, anh đánh xe, một kiểu người mạnh bạo, không ngừng tán tụng người anh họ tôi, và do đó, tôi được biết là Edward King đã trở thành một người có thế lực ở trong vùng này; ông ta tổ chức một ngày hội cho các học sinh, đã mở cửa trang trại tiếp khách, đã góp tiền vào các công cuộc từ thiện. Tóm lại, anh đánh xe chỉ giải thích sự hào phóng đó bằng giả thuyết là ông anh họ tôi muốn được bầu làm dân biểu.
Sự chú ý của tôi bị mang đi khỏi những lời tán tụng đó vì sự xuất hiện của một con chim rất đẹp đậu trên một cột dây thép ở bên đường. Thoạt mới nhìn, tôi tưởng đó là một con chim cà cưỡng nhưng nó to hơn nhiều và lông nó sáng hơn. Người đánh xe nói rằng con chim đó là của anh họ tôi, một người có tật kỳ cục là thích thuần hóa các thú vật lạ. Ông đã mang từ Brasil về những con chim và những con thú mà ông cố gắng nuôi ở Anh quốc. Khi đã vượt các hàng rào song sắt của công viên Greylands, tôi mới nhận thấy là người đánh xe không nói dối tôi. Những con hươu nhỏ bé, một con lợn rừng kỳ quái mà tôi nghĩ có tên là dã trư, một con hoàng oanh có bộ lông tuyệt đẹp, một con vật họ hàng của giống trút, và một loại chồn rất lớn, nhô ra trong khi bọn tôi chạy xe trên lối đi vào.
Ông Edward King đứng ở thềm của và đã trông thấy chúng tôi từ đằng xa và đã đoán ra tôi là ai rồi. Ông có phong cách khả ái, tử tế; người lùn và khỏe mạnh, ông khoảng bốn mươi lăm tuổi, đầu ông tròn vì bị thiêu đốt bởi nắng vùng nhiệt đới nên nổi lên hàng ngàn vết nhăn li ti. Theo kiểu các nhà trồng tỉa, ông mặc một bộ quần áo bằng vải trắng. Với điếu xì gà trên môi và cái mũ rơm lớn hất về phía sau, giá kể ông đứng ở trước một cái nhà nghỉ mát có hàng hiên thì đúng hơn là đứng trước ngôi nhà lớn của người Anh đã có từ thời Georges.
“Mình ơi!” Ông quay người lại và kêu lên. “Người khách của chúng ta đây rồi. Chú rất được hoan nghênh ở Greylands, chú em họ Marshall ạ! Tôi rất hài lòng được biết chú, và tôi coi sự có mặt của chú ở nơi thôn quê nhỏ bé cô quạnh này là một lời chúc tụng chú đã dành cho tôi”
Sự đón tiếp nồng nhiệt của ông làm cho tôi khoan khoái ngay tức thì. Nhưng tất cả sự thân mật đó đã không đủ để bù lại sự lạnh nhạt, tôi có thể nói là sự vô lễ mà bà vợ của ông tỏ ra với tôi. Người to lớn, và gầy ốm, tôi nghĩ rằng bà ta là dân gốc Brasil, dù bà nói tiếng Anh rất giỏi. Thoạt đầu, tôi cho rằng bà có thái độ đó là vì không biết phong tục của chúng tôi. Thật ra và ta không tìm cách che giấu tôilà sự có mặt của tôi ở lâu đài Greylands không làm bà vui thích chút nào. Lời lẽ lúc nào cũng nhã nhặn nhưng bà có một cặp mắt đen có sức biểu lộ đặc biệt, nhìn mắt bà tôi thấy ngay rằng bà hết lòng mong mỏi tôi trở về Luân Đôn càng sớm càng hay.
Tuy nhiên những món nợ của tôi đang quá khẩn cấp và những dự kiến mà tôi xây dựng trên sự hào phóng của ông anh họ giàu sang này lại quá quan trọng, dễ gì cái tính xấu của bà King làm thay đổi được các kế hoạch của tôi. Tôi làm ra vẻ không nhận thấy sự lạnh nhạt của bà vợ và khi nói chuyện với người chồng, tôi đáp lại với sự thân mật không kém sự thân mật của ông. Ông dành mọi thứ để làm cho tôi được thoải mái, dễ chịu. Căn phòng của tôi rất đẹp. Ông bảo tôi cứ nói rõ cho ông biết tất cả những thứ gì có thể cần thêm cho tiện nghi của tôi. Tôi đã toan trả lời rằng một tấm ngân phiếu để trống sẽ thỏa mãn đủ các nguyện vọng của tôi, nhưng chắc chắn sự thật thà như vậy là hơi hấp tấp vì chúng tôi vừa mới quen nhau mà. Bữa ăn tối thật là sang trong. Sau đó chúng tôi cùng ngồi hút thuốc lá Havane và uống cà phê. Ông nói với tôi là cả thuốc lá và cà phê đều từ các đồn điền của ông mang tới. Đúng thế, tất cả những lời tán tụng của người đánh xe tôi thấy hình như đã được chứng minh; chưa bao giờ tôi gặp được một người hiếu khách hơn.
Tuy vậy lòng hào hiệp và tính khả ái bẩm sinh của ông cũng không ngăn cản được ông có một ý chí và một khí chất rất hung hăng. Tôi đã có một thí dụ ngay buổi sáng ngày hôm sau. Vào lúc ăn điểm tâm, sự ác cảm kỳ quái của bà Edward King đã đi tới những mức độ gần như nhục mạ. ngay sau khi ông chồng rời khỏi phòng ăn, bà không tự kiềm chế được nữa. Bà nói với tôi:
- Chuyến tàu ban ngày tốt nhất khởi hành vào mười hai giờ mười lăm phút buổi trưa.
- Nhưng tôi không nghĩ rằng tôi đi hôm nay! – tôi trả lời với tất cả sự thành thật.
Sự thành thật có kèm theo một chút thách thức, vì tôi đã nhất quyết không để cho mụ đàn bà này đuổi tôi ra khỏi cửa.
- Ồ, cái đó là do chú quyết định…
Rồi bà quay gót đi trở vào nhà.
Sự nhục mạ thật là hỗn xược và thô bạo quá khiến tôi đứng lặng người. tôi cứ bất động như vậy cho đến khi ông chủ nhà đi tới. Ông đã vui vẻ trở lại nói với tôi.
- Tôi hy vọng là vợ tôi đã xin lỗi chú về những lời nói ngu ngốc của bà ấy?
- Vâng, vâng! Đã nói rồi!
Ông ấy nắm lấy tay tôi và chúng tôi cùng đi bách bộ trên sân cỏ. Ông khẩn khoản.
- Chú đừng để bụng chuyện đó. Tôi sẽ buồn phiền không tả được nếu chú cắt ngắn chuyến ở chơi một giờ đồng hồ thôi. Sự thể là bà vợ thân yêu của tôi có tính hay ghen không thể tưởng tượng được (không có lý do gì để chúng tôi chơi trò ú tim giữa họ hàng với nhau) bà ấy không thích một người nào, bất kể đàn ông hay đàn bà xen lẫn vào giữa hai vợ chồng chúng tôi dù trong một chốc lát. Lý tưởng của bà ấy là một đời sống vĩnh cửu bên nhau trên một hoang đảo. Đó là lý do của một vài phản ứng mà tôi xin thú nhận với chú là gần giống như một sự điên rồ, chú hãy hứa với tôi là chú không nghĩ tới chuyện đó nữa nhé!
- Đồng ý! Tôi sẽ không nghĩ tới chuyện đó nữa.
- Vậy thì hãy hút điếu xì gà này, tôi sẽ cho chú xem vườn thú nhỏ bé của tôi.
Suốt cả buổi sáng được dành cho cuộc thăm thú này; ông cho tôi xem những con chim những con thú và cả những con rắn Mary ông đã mang từ nước ngoài vào. Có những con được thả tự do, nhiều con khác bị nhốt trong chuồng, một vài con được ở trong nhà. Với sự hứng khởi, ông nói với tôi về những thành công và những thất bại của ông, những vụ thú vật sinh đẻ và thú vật bị chết; khi chúng tôi tới gần thì một con chim sặc sỡ cất cánh bay lên hay khi một con vật kỳ lạ chạy ra, nếu ông không reo lên vui mừng như một cậu học trò thì cũng đúng lẽ thôi. Sau chót, ông dẫn tôi vào một hành lang dài chạy suốt một chái nhà và tận cùng ở một cái cửa nặng nề có cánh kéo ra kéo vào được. Bên cánh cửa, một cái cần để quay tay bằng sắt nối liền vào một cái bánh xe và một cái trục quay nhỏ ra khỏi tường, một hàng chấn song kiên cố ngang qua hành lang.
- Tôi sẽ cho chú xem một vật quý hiếm trong bộ sưu tập của tôi, – ông nói với tôi. Hiện nay con nhỏ ở Rosterdam đã chết rồi, ở châu Âu chỉ còn một con nữa thôi. Đó là một con mèo Brasil”.
- Nó khác với một con mèo khác thế nào?
Ông cười và trả lời tôi.
- Rồi chú sẽ thấy. Chú có muốn đẩy cái cửa ra và nhìn vào bên trong không?
Tôi đồng ý. Tôi trông vào một căn phòng lớn, trơ trụi được lát đá, có những cửa sổ nhỏ có chấn song sắt ở trên bức tường trước mặt. Ở giữa căn phòng này, một convật rất lớn cỡ một con hổ,nhưng kông đen và bóng nhoáng như gỗ mun đang nằm dưới một tia nắng. Đó là một con mèo khổng lồ được chăm sóc rất cẩn thận. Nằm cuôn tròn mình lại, nó tự sưởi ấm một cách bình thản như bất cứ một con mèo nào. Trông nó thật đài các, thật khỏe mạnh, thật đẹp đẽ, thật quỷ quái một cách cao ngạo khiến cho tôi phải dừng lại ở trước cái cửa một lúc lâu để ngắm nghía nó.
- Trông nó có kỳ không? – Ông chủ nhà hỏi tôi với một vẻ hứng khởi.
- Tuyệt diệu! Tôi chưa bao giờ thấy một con vật đẹp hơn.
- Đôi khi người ta gọi nó là con cọp đen, nhưng thật ra nó không phải là một con cọp, từ đầu tới đuôi nó đo được ba thước rưỡi. Bốn năm trước đây nó chỉ là một nắm tròn phủ kín lông đen, để lộ ra đôi con mắt vàng thôi. Người ta đã bán ngay cho tôi sau khi nó được sinh ra ở một vùng hoang vu gần những con suối tai Rionegro. Mẹ nó đã bị hạ sát bằng những nhát giáo vì nó đã giết chết khoảng một chục người dân địa phương.
- Vậy chúng là loại thú dữ anh?
- Những con vật khát máu nhất và phản phúc nhất trong các con vật sống trên trái đất! Hãy nói về một con mèo Brasil với một người da đỏ ở vùng cao nguyên và chú sẽ thấy hắn giật nảy người lên… Những con mèo Brasil thích thiẹt người hơn là bất cứ con mồi nào. Con mèo này chưa được nếm máu một sinh vật nào. Nhưng ngày nào nó được nếm thì nó sẽ trở thành một nỗi khủng khiếp. Hiện bây giờ nó không chịu cho một người nào ngoài tôi ra vào trong chuồng của nó. Ngay cả Baldwin là người coi chuồng cũng không dám đến gần nó. Nhưng tôi, tôi vừa là bố nó, vừa là mẹ nó.
Vừa nói ông vừa mở phăng cái cửa ra, trước sự kinh ngạc lớn lao của tôi và ông bước vào bên trong sau khi đóng sập ngay cửa lại ở phía sau ông. Nghe tiếng ông nói, con vật kếch xù mềm mại đứng lên, ngáp và cọ cái đầu tròn và đen của nó một cách âu yếm vào chủ nó, khi ông vuốt ve nó.
- Tommy, bây giờ vào chuồng đi!
Con mèo quái dị bước về một góc của gian phòng và nằm xuống duới một cái lưới sắt. Edward King đi ra và ông bắt đầu quay cái cần quay tay bằng sắt mà tôi đã nói tới. Lúc đó, hàng song sắt của hành lang bị chuyển động và trượt qua một kẽ hở trong tường để đóng kín mặt trước của lưới sắt. Khi cái chuồng di động này được khép kín rồi, ông mở cửa ra và mời tôi đi vào căn phòng trong đó không khí nặng nề nồng nặc mùi đặc biệt của những loại thú lớn ăn thịt sống.
Ông nói với tôi.
- Đó là cách thức mà chúng tôi làm việc. Chúng tôi để cho nó được sử dụng căn phòng để nó vận động, đi lại; nhưng buổi chiểu thì chúng tôi nhốt nó vào chuồng. Chúng tôi có thể cho nó đi ra bằng cách quay cái cần quay tay ở hành lang hoặc là chúng tôi có thể cũng bằng cách đó nhốt nó lại, như chú vừa thấy đó. Không, không, đừng làm như vậy!…
Tôi vừa cho bàn tay qua các song sắt để vuốt ve cái hông bóng loáng của con vật. Ông ấy giật bàn tay tôi lại phía sau.
- Tôi đoán chắc với chú rằng cần phải đề phòng. Chú đừng tưởng rằng vì tôi gần gũi được với nó mà bất cứ ai cũng có thể tự cho mình cái quyền thân mật với nó. Nó rất khó tính trong sự lựa chon bạn bè, phải không, Tommy? À, nó biết là bữa ăn sáng của nó đang tới! Hả, con trai của ta?…
Một bước chân vang lên trong hành lang lát đá; con mèo Brasil đứng vụt dậy cặp mắt nó long lanh, cái lưỡi nó lia đi lia lại trên những cái răng trắng ớn và sắc nhọn, nó bắt đầu đi đi lại lại trong cái chuồng chật hẹp. Một anh coi chuồng đi vào với một đùi thịt đặt trên một cái mâm và quăng đùi thịt qua lớp chấn song cho nó. Con vật đớp lấy miếng thịt đang bay tới rồi mang vào một góc; tại đó nó cặp đùi thịt vào các móng chân và xé vụn từng mảnh, thỉnh thoảng lại ngẩng cái mõm dính đầy máu lên nhìn chúng tôi. Thật là một cảnh tàn bạo nhưng hấp dẫn.
- Chú không còn ngạc nhiên nữa khi thấy tôi yêu nó lắm phải không? – ông anh họ nói với tôi khi chúng tôi rời khỏi căn phòng – Chính tôi đã nuôi nấng nó. Đem nó từ vùng đất ở giữa Nam Mỹ về đây không phải là một chuyện nhỏ! Nhưng cuối cùng thì đây này, nó vẫn khỏe mạnh, yên lành, như tôi đã nói với chú, nó là con vật đẹp nhất ở Âu châu! ở sở thú, người ta thèm chết đi được để mua nó, nhưng thực sự tôi không có can đảm rời xa nó. Thôi, tôi nghĩ là tôi đã làm chú bận tâm khã nhiều về những tính kỳ cục của tôi; tốt hơn hết là ta hãy bắt chước con Tommy, đi điểm tâm đã.
Người anh em vùng Nam Mỹ của tôi quá say mê với rang trại và những con vật kỳ dị của ông khiến tôi không nghĩ rằng ông còn có thể quan tâm tới một điều gì khác. Nhưng rồi tôi biết ngaylà mình đã lầm; ông ta tiếp nhận rất nhiều điện tín, điều này có nghĩa rõ ràng là ông co những công việc khác, và đó là những công việc khẩn cấp. Những bức điện tín tới bất cứ vào giờ nào; bao giờ ông cũng là người mở chúng ra và ông giải mã chúng với sự thích thú. Việc làm ăn của ông có phải là trường đua ngựa, hay Sở hối đoái không? Trong mọi tình huống, chúng không có một sự liên quan nào với các khu đồi trọc ở Sussex. Trong thời gian sáu ngày tôi sống ở Greylands không ngày nào mà ông nhận dưới ba hay bốn bức điện tín; thường thường là bảy đến tám bức.
Trong sáu ngày đó, tôi đã hành xử rất khôn khéo, khiến cho các liên hệ của tôi với ông anh họ đã trở nên cực kỳ thân thiết, mỗi buổi tối, hai chúng tôi đều thức rất khuya trong phòng chơi bida, và ông đã kể cho tôi nghe những chuyến mạo hiểm kinh dị nhất của ông ở châu Mỹ: những câu chuyện của ông quá rùng rợn, quá khủng khiếp, mà ông kể lại với một vẻ vô tư quá đỗi khiến cho tôi khó mà tin được rằng người anh hùng trong các câu chuyện đó lại là con người nhỏ bé, má phính đang ngồi bên cạnh tôi. Để đánh đổi lại, tôi cũng nỏia từ trong ký ức vài mẩu giai thoại về cuộc sống ở Luân Đôn; những giai thoại này làm ông thích thú đến nỗi ông hứa rằng sẽ tới Luân Đôn thăm tôi và sẽ ở lại nhà tôi ở khu nhà Grosvenor. Ông rất muốn được hội nhập vào cái thế giới của những cư dân của thủ đô; ông còn có thể nhờ vào người hướng dẫn nào thành thạo hơn nữa, tuy nhiên tôi phải đợi tới ngày cuối cùng mới đề cập tới vấn đề chính yếu của tôi. Tôi thành thật kể cho ông rõ những điều phiền phức về tai chánh của tôi và sự suy sụp đang rình rập tôi; sau đó, tôi hỏi ý kiến của ông, trong lòng hy vọng một điều gì cụ thể hơn. Ông lắng nghe tôi nói, miệng luôn phì phèo điếu xì gà.
Rồi ông hỏi tôi:
- Nhưng mà này, chú chính là người thừa kế của ông bác chúng ta, Lord Southerton, phải không?
- Tôi cũng nghĩ như vậy, nhưng không bao giờ ông ấy cho tôi môt xu.
- Tôi có nghe nói về tính keo kiệt của ông ấy. Chú Marshall khốn khổ ơi! Chú gặp cảnh quá khó khăn đó! Nhân nói về chuyện đó, chú có nhận được tin tức mới nào về sức khỏe của Lord Southerton không?
- Từ khi tôi còn nhỏ tý ty, lúc nào ông ấy cũng đau ốm, không nhiều thì ít.
- Đúng thế, sự thừa kế của chú còn có thể chậm trễ lâu hơn nữa. Lạy Chúa, nhưng hoàn cảnh của chú thật kỳ cục!
- Thưa anh, tôi hy vọng là anh đã biết rõ các sự việc và anh có thể vui lòng giúp cho tôi…
- Đừng nói thêm gì nữa, chàng trai thân mến của tôi! – Ông kêu lên với sự nồng nhiệt – Ta sẽ nói về chuyện này tối hôm nay và tôi hứa với chú là tôi sẽ làm tất cả những gì trong khả năng của tôi!
Tôi không thấy có gì phật ý khi thấy những ngày lưu lại đây của tôi sắp kết thúc, vì không có gì khó chịu bằng việc cảm thấy mình kothích hợp với và chủ nhà. Nét mặt vàng nhạt và cặp mắt lạnh như băng của bà King càng ngày càng trở nên đáng ghét đối với tôi. Bà không còn tỏ ra công khai vô lễ nữa; bà quá sợ ông chồng nên không dám có thaid độ hỗn xược. Nhưng bà đẩy tính ghen tuông ngu xuẩn của bà tới chỗ là làm lơ tôi đi; không bao giờ bag nói với tôi một lời; và bà nghĩ mọi cách để làm cho sự lưu ngụ của tôi tại Greylands trở nên cực kỳ buồn tẻ. Nhất là vào ngày cuối cùng, bà tỏ một thái độ quá trắng trợn khiến tôi tính bỏ đi ngay tức thì, nếu tôi không đặt nhiều hi vọng vào cuộc hội kiến mà tôi cần phải có trong buổi tối.
Cuộc hội kiến này diễn ra rất muộn. Ông anh họ tôi đã tiếp nhận trong lúc ban ngày nhiều bức điện tín hơn là thường lệ và sau bữa ăn ông đã tự nhốt mình trong văn phòng; ông chỉ bước ra khi nọi người trong nhà đã đi ngủ. Tôi nghe thấy ông đi vòng quanh nhà để khóa các cửa ngõ, theo như thói quen của ông. Sau cùng, mình choàng một cái áo ngủ và chân đi đôi giày đỏ hở gót, ông tới gặp tôi trong phòng chơi bida. Ông ngồi phịch xuống cái ghế bành bà tự tay rót một cốc Whisky Soda; tôi không thể làm gì khác hơn là nhận thấy lượng Whisky nhiều hơn là nước soda.
Ông thở dài:
- Trời! Một đêm thật dễ sợ!…
Thật vậy, gió gào thét, rên rỉ khắp chung quanh căn nhà; những cửa sổ kêu răng rắc và cọt kẹt làm như chúng sắp bị phá vỡ tung. Ánh sáng của những ngọn đèn và mùi thơm xì gà của chúng tôi đã tạo ra một khung cảnh thoải mái hơn.
-… Bây giờ, chàng trai của tôi ơi, – ông chủ nhà nói tiếp – cả ngôi nhà và bầu trời đêm đều thuộc về chúng ta. Chú có muốn chỉ cho tôi thấy một cách chính xác tình trạng công việc của chú không? Tôi sẽ xem làm cách nào để chỉnh đốn chúng lại. Cho tôi biết mọi chi tiết đi.
Sau khi được khích lệ nhu vậy, tôi lao mình vào một bài thuyết trình đầy đủ trong đó có tên tuổi tất cả những người bán hàng và chủ nợ của tôi, từ ông chủ nhà cho tới anh hầu phòng. Tôi lập cho ông một bản kết toán mà tôi tự hào là một kiểu mẫu trong loại này. Nhưng tôi hơi bực bội khi thấy rằng người bạn của tôi có một cái nhìn trống rỗng của một kẻ mà sự chú tâm đang để ở mãi đâu đâu. Mỗi lần khi ông ngắt lời tôi chỉ là để đưa ra một nhận xét hời hợt chẳng ăn nhằm vào đâu; tôi tin chắc là ông chẳng theo dõi những lời giải thích của tôi một chút nào. Thỉnh thoảng ông ngồi ngay ngắn người lại, hình như tự làm cho tỉnh táo lại, ông bảo tôi nhắc lại một số câu hay bổ sung câu đó bằng một sự chính xác phụ thêm, rồi lại đắm chìm trong các suy tư riêng rẽ của ông. Cuối cùng, ông đứng lên và quăng điếu xì gà vào ống khói. Ông nói với tôi.
- Tôi xin thú thật với chú một vài điều, chàng trai của tôi ạ. Từ xưa không bao giờ tôi giỏi về tính nhẩm và tôi rất tiếc điều đó. Chú phải viết tất cả những việc đó lên giấy và làm con tính cộng của chú bằng cách viết ra. Tôi sẽ hiểu các con số khi tôi đọc trên giấy trắng mực đen…
Lời đề nghị không có gì là quá đáng cả. Tôi hứa là tôi sẽ thực hiện.
- Và bây giờ là lúc chúng ta đi ngủ. Ồ, đã một giờ rồi!
Tiếng chuông đồng hồ ở phòng ngoài đã chế ngự được sự ồn ào của bão táp trong giây lát.
- Tôi phải đi xem con mèo của tôi trước khi lên lầu đi ngủ. Một cơn gió lớn cũng làm nó bực bội. Chú có muốn đi với tôi không?
- Nhất định rồi.
- Vậy thì hãy đi nhẹ nhàng và đừng nói chuyện vì mọi người đang ngủ.
Chúng tôi lặng lẽ đi qua phòng ngoài, rồi qua cái cửa mở và hành lang lát đá ở cuối chái nhà. Tất cả đều tối tăm, nhưng có một ngọn đèn lồng ở chuồng ngựa được treo vào một cái móc. Ông anh họ tôi cầm lấy và đốt lên. Những chấn song sắt không nhìn thấy được trong hành lang; vậy là con vật đang nằm trong chuồng.
Ông anh họ tôi mở cửa và nói với tôi.
- Vào đi!
Một tiếng gầm gừ dữ dội báo cho chúng tôi biết con vật đang rất giận dữ vị thời tiết xấu. Dưới ánh sáng chập chờn của cái đèn lồng, chúng tôi nhìn thấy nó. Cái khối đen kếch xù đang co rút lại trong một góc ổ của nó, chiếu ra một cái bóng lùn tịt trên bức tường quét vôi trắng; đuôi nó đập xuống nệm rơm một cách tức tối.
- Con Tommy khốn khổ không được hài lòng lắm. Edward King nói và giơ cao đèn lồng lên để nhìn nó. – Trông nó giống như một con hắc quỷ lắm phải không? Tôi sẽ cho nó ăn tối để cho nó dịu đi. Chú cầm hộ tôi cái đèn lồng một lát được không?
Tôi cầm lấy cái đèn này từ tay ông đi tới chỗ cái cửa.
- Tủ thức ăn của nó để ở bên cạnh. Chờ tôi một chút có được không?
Ông đi ra và cánh của khép lại sau lưng ông với một tiếng lanh canh của kim loại. tôi rùng minh. Một nỗi kinh hoàng mơ hồ đột nhiên tràn ngập lòng tôi. Ý nghĩ hoang mang về một sự phản trắc đầy tội lỗi làm máu tôi lạnh buốt như băng. Tôi chồm lên cánh của nhưng ở phía trong không có chốt cài.
Tôi kêu lên.
- Này! Cho tôi ra đi!
Từ ngoài hành lang ông anh họ tôi đáp lại.
- Đừng la om sòm lên! Chú có cái đèn lồng mà, phải không?
- Vâng, nhưng tôi chẳng có thích thú nào khi bị nhốt một mình như thế này.
- Thế nào? Chú không thích bị nhốt một mình à?
Tôi nghe thấy tiếng cười đùa cợt nhả của ông ấy.
-… Chú sẽ không phải ông đó một mình lâu đâu, tôi hứa với chú điều này!
- Này, ông anh, hãy để tôi ra đi! – tôi giận dữ nhắc lại – Tôi đoan chắc với anh rằng tôi không phải là hạng người dễ bỏ qua những lối đùa cợt như thế này.
- Những sự đùa cợt thật đúng lf danh từ thích hợp! – Ông đáp lại với một tiếng cười nhỏ nữa.
Và bỗng nhiên, giữa sự ồn ào của bão tố tôi nghe thấy tiếng kèn kẹt và tiếng rè rè của cái cần quay tay, và tiếng các chấn song sắt bắt đầu trượt vào kẽ hở. Trời ơi, ông ấy đag thả con mèo Brasil ra!
Dưới ánh sáng của cái đèn lồng, tôi nhìn thấy các chấn song sắt từ từ di chuyển. Đã có một khoảng trống rộng ba mươi centimet ngăn cách chúng với bức tường ở phía bên kia. Hét lên một tiếng lớn, tôi rúc vào cái song sắt cuối cùng và tôi kéo nó với sự điên cuồng của một kẻ mất trí. (Đúng là tôi đã trở nên điên dại vì nóng giận và kinh hoàng). Trong khoảng chừng hai phút, tôi giữ cái song sắt đứng yên. Tôi biết rằng ông anh họ tôi đang dùng hết sức lực đè vào cái cần quay tay, và cuối cùng thì sức mạnh đòn bẩy sẽ đánh bại sự chống cự của tôi. Tôi chỉ lùi từng centimet một; bàn chân tôi trượt đi trên nền lát đá, nhưng tôi vấn không ngừng nài nỉ tên quái vật vô nhân đạo hãy tha cho tôi khỏi một cái chết tàn bạo như thế này. Tôi cầu khẩn ông ta với danh nghĩa họ hàng của chúng tôi. Tôi kêu gọi lòng hiếu khách của ông. Tôi nài nỉ ông nói cho tôi biết là tôi đã bao giờ làm điều gì tệ bạc với ông chưa! Nhưng câu trả lời duy nhất của ông là những chấn động mà ông đặt vào cái cần quay tay; trong khi đó, cứ mỗi lần chấn động thì lại có một song sắt nữa biến mất vào khe hở. Cứ như thế tôi tự để cho mình bị kéo lê đi dọc theo cái chuồng, cho tới lúc cuối cùng, hai cổ tay đau nhừ, những ngón tay đẫm máu, tôi đành phải bỏ cuộc trong trận đấu không cân bằng này. Khi tôi thả tay ra, bức tường của các song sắt hoàn toàn mất dạng. Một lúc sau đó, tôi nghe tiếng đôi giày đỏ hở gót đi xa dần trong hành lang; cánh cửa ở cuối hàng lang đóng lại một cách nhẹ nhàng. Bây giờ tất cả đều yên lặng.
Trong lúc này, con vật không động đậy, nó nằm trên nệm rơm; đuôi nó đã thôi không vùng vẫy nữa. Cái cảnh tượng một người bị dính chặt vào các song sắt và bị kéo lê trước mặt có vẻ đã làm cho nó khiếp sợ. Tôi trông thấy đôi mắt lớn của nó trừng trừng nhìn tôi. Tôi đã để cái đèn lồng xuống đất khi tôi muốn bám chặt vào các song sắt vì nó vẫn còn đang cháy, tôi muốn cầm lấy nó, với ý nghĩ là ánh sáng có thể che chở cho tôi thì con vật gầm lên một tiếng khủng khiếp. Tôi dừng lại và đứng bất động, với sự kinh hoàng. Con mèo (khi chấp nhận rằng ta có thể gọi một con vật khủng khiếp như vậy bằng cái tên khả ái) ở cách xa tôi không quá ba mét. Cặp mắt nó sáng như hai cục lan tinh tròn trong đêm tối. Trông chúng như có phép thôi miên. Tôi không thể rời mắt khỏi chúng. Trong những giây phút căng thẳng thế này, tạo hóa đã đùa với chúng ta những trò kỳ lạ; các tia sáng này cứ tăng lên và giảm đị theo một nhịp độ đều đặn. Lúc thì chúng giống như hai điểm bé xíu với một ánh sáng cực mạnh, như những tia điện lóe lên trong mộtcăn phòng tối mịt, lúc thì chúng tỏa rộng ra và lớn lên cho tới lúc tất cả cái góc phòng mà con vật ngồi đều tràn đấy cái ánh sáng ma quỷ ấy. Rồi chúng tắt đi một cách đột ngột.
Con vật đã nhắm mắt lại. Tôi không biết có một sự thật nào không trong cái ý nghĩ cổ xưa về uy lực của cái nhìn của con người, do đó con mèo Brasil có thể đã ngủ. Có vẻ như thay vì biểu lộ một ý định hung hăng, thì nó lại tỳ cái đầu đen và óng ánh của nó lên hai bàn chân trước kếch xù và có vẻ như muốn ngủ. Tôi không dám nhúc nhích, sợ rằng sẽ làm thay đổi thái độ của nó, nhưng ít ra tôi cũng có thể suy nghĩ vì cặp mắt khủng khiếp của nó không nhìn tôi nữa. Thế là tôi đã bị nhốt một đêm với con dã thú này. Bản năng của tôi kết hợp với những lời nói của tên đểu cáng đã lừa tôi vào bẫy cảnh báo rằng tôi đang phải đương đầu với một con vật cũng tàn bạo như chủ của nó. Làm thế nào để tránh khỏi sự nguy hiểm cho tới sáng? Về phía cái cửa, không có một hy vọng nào; còn về các cửa sổ, chúng rất hẹp và có song sắt. Không ở chỗ nào có một nơi lánh nạn, một chỗ trú ẩn trong căn phòng trần trụi này. Gọi cầu cứu cũng là vô bổ; tôi biết rằng cái hang dã thú này là một căn phòng phụ thuộc và cái hành lang nối liền nó với chái nhà của ngôi nhà dài tới ba mươi hay bốn mươi mét. Ngoài ra, với giông bão đang hoành hành bên ngoài, những tiếng kêu của tôi sẽ không ai nghe thấy. Tôi chỉ còn có thể trông cậy vào lòng can đảm và sự khôn khéo của tôi mà thôi.
Hỡi ôi, một lớp sóng tuyệt vọng mới đã nhận chìm tôi! Trong mười phút nữa, cái đèn lồng sẽ tắt ngúm. Tôi chỉ còn có mười phút để hành động. Tôi tự biết rằng tôi không còn khả năng tự vệ nếu tôi ở trong đêm tối mịt mù cùng với con dã thú này. Nghĩ tới chuyện này, tôi như tê liệt toàn thân. Cặp mắt hoảng sợ của tôi nhìn một vòng quanhcăn phòng nhốt tử tội này; chúng dừng lại ở một nơi duy nhất tuy không hứa hẹn cho tôi một sự an toàn trọn vẹn nhưng ở đó tôi sẽ đỡ bị lộ ra hơn là ở trên sàn nhà trơ trụi.
Cái chuồng có một cái mái, và cũng có một cái mái ngoài; cái mái này vẫn nằm ngang khi cái mái ngoài được kéo tuột vào trong kẽ hở. Khung sườn của nó được làm bằng những thanh sắt đặt cách nhau độ vài centimet và được phủ bằng một lớp lưới dây thép, nó được dựng ở mỗi bên một cái trụ rất lớn. Trông nó giống như một cái lọng lớn được căng ra, bên trên cái bóng mờ nằm trong góc phòng. Giữa cái dàn bằng sắt này và trần nhà là khoảng bảy mươi hay tám mươi centimet. Chỉ cần tôi có thể lên được đó và ngồi gọn vào giữa các song sắt và trần nhà thì tôi sẽ chỉ còn bị nguy hiểm ở một phía thôi, sự an toàn của tôi được bảo đảm ở phía dưới, ở đằng sau, ở đầu và hai chân. Tôi chỉ có thể bị tấn công ở mặt bị bỏ ngỏ phía trước thôi. Ở phía này thật tình tôi sẽ không lợi dụng được một sự che chở nào. Ít ra tôi cũng không phải đứng trên lối đi của con vật khi nó đi vòng trong hang ổ của nó. Muốn vồ được tôi, nó phải thay đổi các thói quen của nó. Nhưng nếu tôi muốn hành động thì phải làm ngay bây giờ, nếu không chẳng bao giờ làm được nữa, vì một khi cái đèn lồng đã tắt, tôi sẽ không còn khả năng để làm gì nữa. Với một sự nôn nòng hồi hộp ứ lên tận cổ họng, tôi tung mình lên. Tôi bám lấy cái mép sắt của mái chuồng và thở hổn hển, tôi cố lấy lại sức để đu người lên phía trên. Tôi nằm sấp xuống một cách nhẹ nhàng để nhận thấy rằng cái nhìn của tôi chiếu thẳng vào cặp mắt khủng khiếp của con mèo. Nó phì vào mặt tôi hơi thở hôi hám của nó, tôi có cảm tưởng là mình đang nằm bên trên một cái nồi nấu những thứ ô uế ghê tởm.
Tuy nhiên, nó có vẻ kinh ngạc hơn là tức giận. Nó duỗi tất cả bề dài của cái lưng đen xì của nó ra, đứng dậy, vươn vai và ngáp dài; sau đó nó đứng thẳng ên trên hai chân sau, chống một chân trước vào tường và giơ chân kia lên, lấy móng quơ vào những sợi dây thép của mạng lưới mắt cáo mà tôi nằm trên. Một cái móng trắng nhọn hoắt xé rách quần tôi (tôi vẫn còn mặc bộ quần áo dạ hội) và để lại một vết xước dài trên đầu gối tôi. Nói đúng ra thì đó không phải là một sự tấn công, nhưng chỉ là một sự thăm dò. Quả tình là tôi đã để thốt ra một tiếng kêu đau nhỏ và con thú lại ngã ra phía sau, đứng trên bốn chân. Nó bước một cách nhẹ nhàng bắt đầu đi vòng quanh căn phòng, thỉnh thoảng lại ngẩng đầu lên nhìn về phía tôi. Tôi cố sức lùi vào để áp lưng vào bức tường. Tôi càng ngồi xa cái mép bao nhiêu thì nó càng khó tấn công tôi bấy nhiêu.
Từ lúc bắt đầu cử động, nó có vẻ bực bội hơn. Nó bước nhanh hơn và lặng lẽ vòng quanh căn phòng, đi qua, đi lại dưới chỗ ẩn náu của tôi. Thật là tuyệt diệu, khi được thấy một khối thịt đồ sộ như vậy đi lại như một cái bóng mag không co một tiếng động nào khác ngoài tiếng đập trầm, nhẹ nhàng của những bàn chân bọc nhung của nó! Ánh lửa của cái đèn lồng đã gần như không còn nhìn thấy được nữa; tôi khó mà nhìn rõ con vật. Và rồi sau một tia sáng cuối cùng, ngọn đèn tắt ngúm. Còn lại một mình với con thú dữ trong cảnh tối tăm.
Khi người ta biết rõ là mình đã làm hết sực lực và ngaycả đã làm những điều không thể làm được thì người ta sẽ đương đầu với sự hiểm nguy một cách tốt đẹp hơn: ta chỉ còn có việc chờ đợi một cách thanh thản tiếp diễn của các sự việc. Trong tình huống hiện thời, tôi đã chiếm cứ được một chỗ duy nhất để đảm bảo cho tôi một sự an toàn tương đối. Do đó, tôi nằm duỗi thẳng người ra và tự để cho mình được vỗ về bởi cái hi vọng là con vật có thể quên đi sự có mặt của tôi, nếu tôi không làm điều gì để nhắc nhở nó việc đó. Tôi tính nhẩm là chắc đã tới hai giờ sáng. Tới lúc bốn giờ, trời sẽ sáng. Phải chò đợi hai giờ đồng hồ nữa!
Ở bên ngoài, giông bão vẫn còn dữ dội, và mưa đập mạnh vào các cửa sổ nhỏ. Ở bên trong thì không khí hôi hám. Tôi không thể trông hay nghe thấy con mèo. Tôi có không nghĩ tới nó nữa. Chỉ có một điều có thể làm tôi xao lãng tình thế khủng khiếp của tôi lúc này, đó là sự phản phúc của người anh họ tôi, sự đạo đức giả không gì so sánh được của ông ta, sự hận thù quái ác của ông ta đối với tôi. Dưới cái mặt nạ phúng phính, vui vẻ đã ẩn núp linh hồn của một kẻ sát nhân thời trung cổ. Nghĩ lại chuyện đó, tôi đã nhìn thấy rõ ràng hơn cách thức ông ta chuẩn bị cho kế hoạch của mình như thế nào. Bề ngoài thì rõ ràng là ông ta đã lên lầu đi ngủ cùng một lúc với mọi người khác, chắc chắn là ông ta sẽ có những người làm chứng để xác nhận việc này, rồi ông ta lẻn xuống nhà, dẫn dụ tôi vào cái hang thú này và bỏ mặc tôi trong đó. Câu chuyện ông ta bịa ra cũng sẽ đơn giản thôi. Ông ta sẽ nói rằng ông ta để tôi ngồ lại trong phòng chơi bida hút nốt điếu xì gà, rằng tôi đã tự ý đi xem con mèo một lần chót, rằng tôi đã đi vào trong phòng mà không nhận thấy cái chuồng đã mở ra, và rằng tôi đã bị ăn thịt. Làm thế nào mà một vụ án như thế lại có thể đổ lỗi cho ông ta được? Có thể là người ta sẽ nghi ngờ ông ta; nhưng lấy bằng chứng nào để buộc tội ông ta? Không có một bằng chứng nào cả.
Hai giờ đó mới chậm chạp làm sao. Có một lần tôi nghe thấy một tiếng chà xát; tôi độ chừng là con vật đang liếm lông của nó. Có nhiều lần, cặp mắt xanh lè của nó quay về phía tôi, nhưng không bao giờ nhìn chăm chú vào tôi. Tôi bắt đầu hy vọng là thật sự nó đã quên tôi, hoặc nó muốn lơ tôi đi. Cuối cùng, ánh sáng đầu tiên của bình minh đã lọt qua cửa sổ. Thoạt đầu tôi nhìn thấy hai ông vuông màu xám trên bức tường đen rồi màu xám trở thành màu trắng; lúc đó tôi lại nhìn thấy rõ ràng người bạn cùng phòng khủng khiếp của tôi. Nhưng than ôi, chính nó cũng có thể nhìn thấy chỗ tôi nằm!
Ngay tức khắc, tôi đoán ra rằng tính nết nó còn hung hăng hơn nhiều, còn nguy hiểm hơn nhiều. Cái lạnh buổi ban mai làm cho nó cáu kỉnh, và chắc là nó đã đói bụng. Nó gầm gừ không ngừng và đi qua đi lại ở phía căn phòng đối diện với tôi và là chỗ cách xa nơi ẩn núp của tôi nhất. Râu nó dựng đứng lên, đuôi ve vẩy một cách giận dữ, khi nó xoay bước ở các góc phòng, cặp mắt dữ tợn của nó ngước lên về phía tôi. Tôi nhìn trong mắt nó thấy rõ ràng một sự đe dọa khủng khiếp nhất; tôi biết là nó muốn giết tôi. Tuy nhiên, ngay cả vào lúc đó tôi cũng không thể ngăn cản mình khỏi cảm phục dáng bộ uyển chuyển của con vật quỷ quái này, những bước đi dài và mềm mại của nó, màu lông óng ảnh ở hai bên hông nó, sự động đậy của cái lưỡi đỏ lắt lẻo dưới cái mõm đen xì. Nó gầm gừ mỗi lúc một lớn hơn. Hết phút này qua phút khác, tôi chờ đợi sự tấn công của nó.
Thật quá buồn thảm khi phải chết như thế này! Tôi thấy lạnh, tôi run lập cập trong bộ quần áo dạ hội mặc lúc chiều tối, tôi đau đớn một cách tuyệt vọng trên cái lưới sắt cực hình của tôi. Tôi cố sức nâng cao tâm hồn tôi lên trên cái số phận đang chờ đợi tôi, nhưng đồng thời với sự tỉnh táo vốn là đức tính đặc biệt của một người đã sẵn sàng.

Hồn MaTừ Đáy Biển

Khi nào mà các đại dương vẫn còn những lợi gân nối liền các phần khác nhau của Đế quốc Anh thì chúng ta vẫn sẽ không tránh khỏi những chuyện hoang đường. Vì linh hồn người ta tự để cho bị khuấy động bởi nước, cũng giống hệt như nước phải vâng theo mặt trăng và khi những con đường lớn của một đế quốc bị bao quanh bởi nỗi hỉêm nguy muôn thuở, cũng phong phú về những cảnh trí và âm thanh kỳ lạ, người ta phải có một tinh thần khá thâm hậu để giữ được thản nhiên trước những điều ác hại của chúng. Hiện nay nước Anh đang vươn ra rất xa bên ngoài chính quốc, khi mà ba ngàn dặm hải phận của mỗi mạn duyên hải làm thành cương giới mà nó đã đoạt được bởi cái búa, cái khuôn dệt và cái cuốc nhọn hơn là bởi những nghệ thuật của chiến tranh. Quả thật lịch sử đã đoán chắc với chúng ta rằng không một ông vua nào, không một đạo quân nào có thể cản đường của một người chỉ có hai đồng tiền trong két sắt nhưng biết rằng ở nơi nào y sẽ có thể biến hai đồng tiền thành ba đồng, và để hết trí thông minh vào việc đi tới nơi đã định. Và vì cương giới đã mở xa ra, trí thông minh của Anh Quốc cũng được nới rộng và tràn lan ra một cách đầy đủ trên khắp thế giới để cho tất cả mọi người thấy rằng những con đường của hải đảo có tính cách châu lục, giống hệt như những con đường của châu lục đều có tính cách hải đảo.

Nhưng để tới được chỗ đó, người ta đã phải trả một cái giá, và cái giá này cứ tiếp tục tốn kém hơn. Cũng giống như con quái vật thời xưa phải nhận được dưới dạng cống phẩm hàng năm một người trai trẻ, với đế quốc của chúng ta cũng thế, hàng ngày chúng ta phải hy sinh cái tinh hoa của thế hệ thanh niên của chúng ta. Guồng máy thì bao la và dũng mãnh nhưng nhiên liệu duy nhất làm cho nó vận hành là sinh mạng của dân Anh. Đó là lý do tại sao khi ở trong những giáo đường cổ kính màu xám chúng ta nhìn thấy những danh tính xa lạ: những danh tính mà cả những người xây các bức tường này cũng không biết, vì chính ở Peshawar, ở Umbellah, ở Korti, ở Fort Pearson mà những chàng trai trẻ chết, mà chỉ để lại phía sau họ truyền thuyết và một tấm biển. Nếu bên trên mỗi cái xác người Anh có một đài kỷ niệm được dựng lwn thì người ta sẽ không cần vạch ra cương giới, vì một sợi dây thừng của những ngôi mộ sẽ chỉ rõ làn sóng của dân Anh và Celtes đã vờ tới nơi nào.
Cả điều đó nữa, đồng thời với những khối nước nối liền chúng ta với thế giới, đã đóng góp vào những chuyện hoang đường mà chúng ta thấm nhuần. Khi mà bao nhiêu người đàn ông và đàn bà đã có ở phía bên kia đại dương những người mà họ yêu quý và những người này đang tiến lên dưới làn đạn của dân sơn cước hoặc trong những đầm lầy của bệnh sốt rét rừng, thì lúc đó tâm hồn đi vào sự giao cảm với tâm hồn, và những truyện ly kỳ nẩy sinh, những mộng mị, những sự linh cảm, những ảo tưởng trong đó một bà mẹ trông thấy con trai bà đang chết và bà ngất đi trong cơn tuyệt vọng, ngay cả trước khi cái tang của anh ta được loan báo cho bà. Mới gần đây khoa học đã chiếu cố tới vấn đề này và đã ban cho nó một cái nhãn hiệu, nhưng chúng ta đã biêt gì hơn nếu không phải là việc một linh hồn bị hành hạ và tới bước cũng đã có thể phóng qua mặt đất, vào một khoảng cách mươi lăm ngàn cây số, cái hình ảnh của tình cảnh đau buồn của y tới tận tâm trí của người thân cận nhất của y? Tôi không hề phủ nhận cái quyền năng đó, nhưng tôi nghĩ rằng cần phải khôn ngoan trong những vấn đề như vậy, vì ít nhất đã có một lần tôi biết rằng những điều trong khuôn khổ các định luật tự nhiên có thể hoàn toàn nằm ngoài những vấn đề này.
John Vansittart là hội viên thứ nhì của công ty Hudson et Vansittal, công ty xuất khẩu cà phê ở Ceylan ( Tích Lan). Ông vốn là người gốc Hà Lan, nhưng 100% Ăng-Lê trong lòng các phong độ. Đã nhiều năm tôi làm đại diện cho ông ở Luân Đôn. Khi ông tới Anh quốc để nghỉ ngơi ba tháng, ông nói với tôi để có những sự giới thiệu cho phép ông làm quen với đời sống ở thị thành và ở thôn quê. Ông đã rời khỏi các văn phòng của tôi với bảy bức thư trong túi áo. Trong một vài tuân, những bức thư ngắn từ nhiều nơi khác nhau gửi tới báo tin cho tôi biết là ông đã lấy được cảm tình của các bạn tôi. Rồi tôi được tin là ông đã đính hôn vơi Emily Lawson, thuộc ngành thứ của gia đình nhà Hereford Lawson, và gần như ngay sau đó họ đã thành hôn: sự tán tỉnh của một du khách chỉ có thể chóng vánh thôi, và cái ngay ông phải xuống tàu của công ty, một cái tàu buồn một ngàn tấn: đó sẽ là chuyến đi chơi tuần trăng mật của họ.
Thời đó là thời cực kỳ thuận lợi cho các nhà trồng cà phê ở Ceylan, họ đã chưa từng biết cái mùa khủng khiếp mà chỉ trong vài tháng thôi, nhưng đã làm lụi bại tất cả một cộgn đồng này nhờ ở sự dũng cẩm và kiên trì, sẽ lại dành được một thắng lợi thứ hai: quả thực những cánh đồng trà ở Tích Lan là một đại công trình của lòng dũng cảm của dân Anh, giống hệt như con sư tử ở Waterloo. Nhưng trong năm 1872 chưa có một đám mây nào đe doạ ở chân trời. Những hy vọng của các nhà trồng tỉa thật tràn trề, Vansittart trở lại Luân Đôn cùng với cô vợ trẻ đẹp của ông. Ông giới thiệu cô với tôi, chúng tôi cùng ăn bữa tối với nhau, và cuối cùng thì ông đồng ý rằng, vì các công việc củng đòi hỏi sự có mặt của tôi ở Tích Lan, tôi sẽ là bạn đồng hành của họ trên tau Eastern Star, mà sự nhổ neo rời bến đã được định trước vào ngay thứ hai sắp tới.
Tôi gặp lại ông vào buổi tối ngày chủ nhật. Ông đi vào trong nhà tôi với một vẻ băn khoăng và bực bội. Khi tôi bắt tay ông, tôi nhận thấy bàn tay ông nóng và khô.
- Ông Atkinson ạ, ông nói với tôi, tôi muốn ông bảo người nhà pha cho tôi một chút nước chanh và nước lạnh. Nói theo nghĩa đen, tôi đang chết khát đây, và tôi càng uống bao nhiêu thì tôi càng muốn uống nữa.
Tôi bấm chuông và gọi lấy một bình nước và những cái cốc.
- Ông đang bị sốt nóng lạnh, toi nói với ông, ông có vẻ đang khó ở đó.
- Không, tôi không cảm thấy khoẻ mạnh lắm. Tôi bị đau phong thấp ở lưng, và tôi ăn không ngon. Chính cài thành phố Luân Đôn chết tiệt này làm tôi nghẹt thở. Tôi không quen hít thở cái không khí mà bốn triệu buồng phổi cùng khuấy trộn lên cùng một lúc.
Ông vung vẩy hai bàn tay co quắp trước mặt ông: thật sự ông đã cho người ta một ấn tượng của sự ngột ngạt.
- Một khi ông ở trên mặt biển, ông sẽ cảm thấy khoẻ khoắn ngay.
- Đúng. Về điều đó thì tôi đồng ý với ông, Đó là việc cần thiết của tôi. Tôi không cần tới một vị y sĩ khác. Nếu ngày mai tôi không xuống tàu thì tôi sẽ phát ốm…..
Ông uống một hơi hết cốc nước chanh và ông xoa chỗ sống lưng bằng hai bàn tay ông.
- Người ta nói rằng điều đó sẽ tốt cho tôi, ông nói tiếp trong khi nhìn tôi với một con mắt rầu rỉ. Bây giờ tôi cần có sự giúp đỡ của ông, ông Atkinson ạ, vì tôi đang ở trong một hoàn cảnh tế nhị.
- Hoàn cảnh thế nào?
- Đây này, bà mẹ vợ tôi bị ngã bệnh và bà ấy đã đánh điện gọi vợ tôi tới bên giường bệnh của bà ấy. Tôi đã không thể đi theo vợ tôi (ông biết rõ hơn ai hết là tôi đã bị cầm chân lại ở đây ) và vợ tôi đành phải đi một mình. Bây giờ tôi lại vừa nhận được một bức điện khác nói là ngày mai vợ tôi không thể tới được, nhưng nàng sẽ bắt kịp con tàu ở Falmouth vào ngày thứ tư. Ông biết đó, chúng tôi sẽ đạu lại ở đó: nhưng Atkinson ạ, tôi thấy thật là khó cho người ta đòi hỏi một người phải tin vào sự huyền bí, và người ta sẽ nguyền rủa, nếu y không thể tin vào điều đó, người ta sẽ nguyền rủa y, ông hãy hiểu tôi đi!
Ông cúi xuống phía trước và khịt mũi làm như thể ông sắp khóc oà lên.
Lúc đó tôi nghĩ tới việc người ta đã nói rất nhiều với tôi về những tập tục ở hải đảo và về cách thức người ta uống rượu không pha ở đó. Chắc hẳn rượu đã là nguyên nhân của những lời nói khó hiểu này và của những bàn tay đang lên cơn sốt này! Tôi cảm thấy một sự lo sợ mạnh mẽ khi trông thấy một người trai trẻ cao quý như vậy nằm trong tay một con quỉ ghê tởm nhất trong số tất cả những con gái.
- Ông phải đi nằm nghỉ! Tôi nói một cách nghiêm nghị.
Ông dụi mắt như thể ông tìm cách tự làm cho mình tỉnh lại, và ông nhìn tôi với vẻ kinh ngạc.
- Tôi sẽ đi tới đó, ông nói với tôi một cách bình thản, lúc nãy tôi cảm thấy hơi choáng váng, nhưng bây giờ tôi đã hồi phục rôi. Này, tôi đang nói về về việc gì thế? À, dĩ nhiên là về vợ tôi rồi! Nàng sẽ xuống tàu ở Falmouth. Tôi tin rằng sức khoẻ của tôi tuỳ thuộc vào sự đi đường biển. Tôi cần có chút ít không khí trong lành trong phổi tôi để tôi có thể hoàn toàn bình phục. Do đó tôi xin ông hãy làm cho một việc với tư cách bạn bè, ông sẽ đí tới Falmuoth bằng xe lửa, phòng trường hợp mà chúng tôi tới trẻ, và lúc đó ông sẽ trông nom cho vợ tôi. Ông hãy tới khách sạn Royal; tôi sẽ đánh điện cho nàng là ông trú chân ở đó. Em gái của nàng sẽ đi theo nàng tới tận đó, như thế là mọi việc sẽ tốt đẹp.
- Rất vui lòng, tôi trả lời. Thật sự tôi không đòi hỏi gì hơn là được đi tới Falmuoth bằng xe lửa, vì từ đây tới Colombo chúng ta sẽ có nhiều thời gian thưởng thức biển cả. Tôi cũng nghĩ rằng ông có một nhu vầu khẩn thiết về sự thay đổi không khí. Nếu ở địa vị ông tôi sẽ đi nằm nghỉ ngay tức thì.
- Phải. Đêm hôm nay tôi sẽ ngủ trên tàu. Ông thấy đó một thứ sương mù còn lởn vởn trước mắt ông.
-….Mấy đêm nay tôi không ngủ được nhiều, tôi đã gặp mâu thuẫn với các nhà thần học….nghĩa là…..
Trong một sự cố gắng tuyệt vọng, ông kêu lên:
-….Bởi những sự hoài nghi có tính cách thần học…Xì! Tôi tự hỏi tại sao đấng tối cao toàn năng lại tạo ra chúng ta, tại sao. Ngài lại làm cho chúng ta ngu độn và gài những sự đau đớn lặt vặt vào sống lưng của chúng ta. Có lẽ là tối nay tôi sẽ khá hơn!
Ông đứng dậy và bám thấy cái lưng ghế của ông.
- Ông Vansittart! Xin ông hãy nghe tôi! Tôi nói với sự nghiêm trọng. Tối nay tôi sẽ mời ông ở đây với tôi, ông không ở trong tình trạng để đi ra ngoài được. Ông không đi ngay ngắn được. Ông đã uống những thứ pha trộn của rượu…
- Rượu hả?
Ông nhìn thằng vào mắt tôi với một cái nhìn ngớ ngẩn.
- Thường nhật thì ông chịu đựng khá hơn khi uống rượu mà.
- Ông Ankinson này, tôi thề với ông là đã từ hai ngày nay tôi không uống một cốc rượu, tôi không biết là tôi đã uống cái gì. Tôi giả thiết rằng ông nghĩ đó là hiệu ứng của rượu….
Ông nắm lấy bàn tay tôi và đặt nó lên trán ông.
- Lạy chúa tôi! Tôi kêu phải lên.
Ông có làn da mỏng như một dải nhung, dưới lớp da tôi cảm thấy như một lớp chi chít những miêng chỉ lụn vụn.
- Ông chớ lo sợ, ông nói trong lúc cười mỉm. Tôi đã mắc bệnh lở mụn nước rất tệ.
- Nhưng chuyện đó không dính líu gì tới bệnh lở mụn nước mà !
- Không, đó là Luân Đôn. Đó là việc thở hít cái không khí tệ hại đó. Ngày mai tôi sẽ mạnh khoẻ hơn nhiều. Trên tàu có một y sĩ, thế là tôi sẽ được săn sóc chu đáo. Bây giờ tôi sẽ đi đây.
- Không, tôi nói với ông trong khi bắt ông phải ngồi xuống. Việc đó sẽ là đưa sự đùa cợt đi quá xa đấy. Ông sẽ không nhúc nhích khỏi nơi này trước khi gặp một vị y sĩ. Hãy ở yên chỗ ông đang ngồi.
Tôi cầm lấy cái mũ và vội vã đi tới nhà một vị y sĩ ở ngay gần nhà tôi. Tôi đưa ông ấy về nhà tôi ngay lập tức, nhưng phòng khách của tôi trống không và Vansittart đã đi khỏi. Tôi bấm chuông, anh đầy tớ báo với tôi rằng vị quý khách đã sai gọi một cỗ xe. Ông ấy bảo người đánh xe đưa ông ấy đến bến tàu.
- Vị quý khách có vẻ ốm yếu không? Tôi hỏi.
- Ốm yếu à? Anh đầy tớ mỉm cười trả lời. Thưa ông không, ông ấy hát ầm ĩ!
Sự bào tin này đã không làm tôi yên tâm chút nào, nhưng tôi nghĩ rằng ông đi tới tàu Eastem Star, và có một y sĩ ở trên tàu, tôi không thể làm được gì nữa cho ông. Tuy nhiên, khi tôi nhớ tới sự khác nước của ông, nhớ tới hai bầnty nóng bỏng của ông, con mắt nặng chĩu của ông, những lời nói vô ý nghĩa của ông, và cuối cùng là cái trán lở lói bệnh cùi của ông, thì tôi đã mang theo lên giường nằm của tôi một ký ức khó chịu về người khách của tôi và sự tới thăm của ông ấy.
Sáng hôm sau, vào lúc mười một giờ, tôi đi tới bến tàu, nhưng tàu Eastern Star đã bắt đầu chạy xuôi dòng sông và đã fần tới Gravesend. Tôi đi với Gravesend bằng xe lửa, nhưng khi tôi tới nơi thì chỉ còn trông thấy các cột buồm của nó ở một khoảng cách khá xa, được mở đường phía trước bởi một lùm khói của một cái tàu kéo. Thế là tôi không có tin tức nào của ông bạn tôi nữa trước khi tới Falmuoth. Khi tôi trở về văn phòng của tôi, một bức điện tín đã đợi tôi. Bà Vansittart đã tới Falmuoth; buổi tối ngày hôm sau, chúng tôi gặp nhau ở khách sạn Royal, tại đó chúng tôi phải đợi tàu Eastern Star. Mười ngày đã trôi qua, chúng tôi không nhận được tin tức gì của con tàu.
Tôi sẽ không dễ dàng quên được mười ngày đó! Khi tàu Eastern Star rời khoti sông Tamise, một cơn bão lớn phát khởi; nó thổi trong gần cả một tuần lễ không ngừng nghĩ chút nào. Trên bờ biển miền nam, chưa bao giờ người ta thấy một trận bảo dài như thế và cuồng nộ như thế. Từ các cửa sổ khách sạn của chúng tôi, mặt biển hình như bị bao trùm trong sương mù. Gió đè một cách quá nặng nề lên những đợt sóng khiến cho mặt biển không thể vùng lên được: ngọn của từng đợt sóng đã bị ngắt đi ngay tức thì. Những đám mây, gió, mặt biển đều ùn ùn kéo về hướng tây. Ở giữa những thế lực hung hăng này, tôi chờ đợi hết ngày này qua ngày khác với sự bầu bạn duy nhất của một người đàn bà xanh xao và trầm lặng, mà cặp mắt phản ảnh sự kinh hoàng; từ sáng tới chiều, nàng cứ đứng dán mắt vào cửa kính, đăm đăm nhìn vào tấm xịt qua đó một con tàu có thể hiện ra. Nàng không nói gì cả, nhưng nét mặt nàng là một khúc bi ca dài dặc.
Sang tới ngày thứ năm tôi hỏi ý kiến một thủy thủ già. Ý tôi muốn được ngồi một mình với ông ấy, nhưng nàng đã trông thấy tôi mở lời với ông ấy, và nàng tới ngay tức thì, miệng hé mở và đôi mắt khẩn cầu.
- Khởi hành từ Luân Đôn đã bảy ngày rồi à? Ông ấy nói. Vậy là năm ngày trong giông bão. Này, biển Manche đã bị quét sạch bởi cơn gió này! Có ba giả thuyết, trận bão có thể bắt nó phải tìm nơi trú ẩn trong một hải cảng của Pháp. Điều này có thể là đúng.
- Không phải thế đâu! Ông ấy biết rằng chúng tôi đang ở đây. Lẽ ra ông ấy phải đánh điện cho chúng tôi.
- À phải! Vậy thì có thể là nó đã chạy ra khơiđể tránh bão, nếu đúng vậy thì lúc này chắc nó không ở xa Madere. Thưa bà, điều đó hoàn toàn có thể xảy ra; bà có thể tin lời tôi nói !
- Và giả thuyết thứ ba?
- Tôi có nói với bà về một giả thuyết thứ ba à? Không, tôi nghĩ chỉ có hai thôi. Tôi không tin là tôi đã nói tới một giả thuyết thứ ba. Con tàu của bà đang ở một nơi nào đó ở giữa Đại Tây Dương, và chả mấy chốc bà sẽ có tin tức của nó, vì thời tiết săp thay đổi. Thưa bà, bà chớ lo lắng. Hãy đợi tới ngày mai, ngay từ buổi sáng bà sẽ có một bầu trời xanh, đẹp.
Người thủy thủ già đã tiên đoán đúng: ngày hôm sau trời quang đãng ngoại trừ một đám mây thấp bay ở phía tây, và đó là mảnh cuối cùng của cơn cuồng nộ của trận bão tố. Dù trời đã quang đãng chúng tôi cũng vẫn không có một tin tức nào về chiếc tàu thủy. Ba ngày bực bội, lo âu nữa đã trôi qua, rồi một thủy thủ tới trình diện ở khách sạn với một bức thư, tôi thốt lên một tiếng kêu vui mừng. Bức thư tới từ vị thuyền trưởng của tàu Eastern Star. Khi đọc qua mấy dòng đầu tiên, tôi đã muốn giấu nhẹm là thư đi, nhưng nàng đã giật lấy nó từ tay tôi.
- Tôi đã đọc đoạn đầu, nàng nói với một giọng bình thản. Vậy thì tôi có thể đọc chỗ tiếp theo.
Lá thư viết như sau:
” Kính thư ông, ông Vansittart đang ở trên tàu với bệnh đậu mùa, và chúng tôi đã bị đẩy ra quá xa mũi đất của chúng ta nên chúng tôi không biết phải làm sao: ông ấy đã phát cuồng và ông ấy không còn khả năng để ra lệnh cho chúng tôi. Theo những sự tính toán phỏng chừng của tôi thì chúng tôi chỉ còn cách Fanchal chừng bốn trăm hai mươi cây số thôi. Tôi cũng giả thiết là nên đi tới đó, đưa ông Vansittart vào bệnh viện, và đợi ông tới ở trong vịnh. Người ta nói với tôi là trong vài ngày nữa một tàu buồm sẽ từ Falmuoth đi tới Fanchal. Lá thư này sẽ được mang tới ông bằng sự môi giới của thuyền nhỏ Marian ở Falmuoth, phải trả viên thuyền trưởng của nó năm bảng. Kính chào ông. Jno Hines. ”
Nàng thật là tuyệt diệu, cô thiếu nữ vừa mới rời khỏi đại học này! Cũng trầm tĩnh và cương nghị như một bậc nam nhi vậy. Nàng không nói gì cả. Nàng mím chặt môi và đội mũ lên đầu.
- Cô đi ra ngoài à? Tôi hỏi.
- Vâng.
- Tôi có thể giúp gì cho cô không?
- Không, tôi đến nhà vị y sĩ.
- Sao?
- Phải. Để biết cách người ta điều trị bệnh đậu mùa.
Nàng loay hoay bận rộn súôt cả buổi tối. Sáng ngày hôm sau, chúng tôi xuống tàu đi Madere, trên chiếc tàu Róe ò Shảon. Gió biển thổi mười nút một giờ. Trong năm ngày chúng tôi chạy với tốc độ đều đặn, và chúng tôi đã tới nơi không xa hải đảo. Sang ngày thứ sáu gió nổi lên đột ngột, chúng tôi lâm vào tình trạng không nhúc nhích được như đi trên dầu nhớt.
Lúc mười giờ tối, Emily Vansittart và tôi cùng đứng tựa vào bao lớn bên phải của mạn cuối tàu; mặt trăng sáng rực đằng sau chúng tôi và chiếu xuống chân chúng tôi bóng đen của con tàu và bóng hai cái đầu của chúng tôi trên mặt nước lóng lánh như tấm gương. Từ chỗ bóng tối một con đường của ánh trăng trải dài ta và vừa đi xa, vừa tan rộng cho mãi tới chân trời hiu quạnh. Chúng tôi nói chuyện trong khi cúi thấp đầu xuống, chúng tôi nói dông dài về sự yên tĩnh, về cơ may của một cơn gió thuận lợi, về trạng thái của bầu trời, thì bỗng nhiên có một tiếng bõm trên mặt nước, như thể một con cá hồi vừa nhảy lên, và kìa, dưới ánh sáng trăng vằng vặc John Vansittart nhô lên từ dưới mặt biển và ngẩng đầu lên về phía chúng tôi.
Tôi chưa bao giờ thấy một vật gì rõ rệt hơn thế. Ánh trăng soi sáng ông ấy rõ mồn một, ông ấy ở cách xa chúng tôi tầm độ ba tầm chèo. Ông ấy có bộ mặt phồng lên lớn hơn là lần gặp mặt cuối cùng của chúng tôi, da ông có nhiều chỗ lốm đốm những vẫy đen; mặt và miệng ông mở lớn ra như thể một người vủa gặp một sự kinh ngạc lớn lao. Từ hai vai của ông, một chất trắng đục chảy xuống thành những dãi dài; một bàn tay của ông giơ lên gần tai, bàn tay kia thì gặp lại để ngang ngực ông. Tôi trông thấy ông vọt lên khỏi mặt nước, và trên mặt phẳng yên tĩnh của đại dương, những gợn sóng vẽ thành các vòng tròn cho mãi tới hông tàu. Rồi ông lại chìm xuống, và tôi nghe thấy một tiếng rập gẫy, một tiếng xé rách, như thể trong một đêm băng giá một bó củi khô nổ lép bép trong đống lửa bập bùng. Khi tôi nhìn lại tôi không còn trông thấy một chút dấu vết nào của ông đã xuất hiện. Tôi không thể nói là tôi đã đứng ở đó bao lâu cúi khom người trên các đầu ngón chân, một tay vịn chặt lấy cái lan can và tay kia đỡ lấy người đàn bà bất tỉnh. Tôi đã là một kẻ trái ngược hẳn với người hay nhạy cảm, lần này thì ít nhất tôi đạp chân lên boong tàu để biết chắc tôi vẫn còn làm chủ được các cảm giác của chính tôi, và đây không phải là sự sáng tạo điên khùng của một bộ óc hỗn loạn. Emily Vansittart run lẩy bẩy, mở mắt ra, nàng đứng dậy, hai tay tì vào cái lan can, nhìn ra mặt biển long lanh dưới ánh trăng; mặt nàng đã già đi mười năm trong một đêm hè.
- Ông có nhìn thấy ông ấy không? Nàng thì thào nói.
- Tôi đã nhìn thấy một vật gì.
- Đó là ông ấy! Đó là John! Ông ấy đã chết!….
Tôi ấp úng nói một vài lời có tính cách hoài nghi.
-…Chắc chắn là ông ấy vừa mới chết, nàng nói nhỏ. Ở bệnh viện Madère. Tôi đã đọc qua những truyện vào loại đó. Các yd nghĩ của ông ấy đều nghĩ tới tôi. Thị quan của ông ấy đã tới với tôi. Ôi John, người yêu quý của tôi, người yêu quý đã mất đi mãi mãi của tôi !
Nàng oà lên khóc nức nở: tôi đưa nàng về phòng của nàng và để nàng ở đó với nỗi lo buồn của nàng. Một cơn gió nhỏ bắt đầu thổi trong lúc ban đêm, và buổi tối hôm sau chúng tôi bỏ neo trong vịnh Fanchal. Tàu Eastern Star đang đậu gần đó, lá cờ kiểm dịch được treo cao trên cột buồm lớn và cờ hiệu của nó để rũ xuống.
- Ông trông kìa! Bà Vansittart nói với tôi.
Cặp mắt nàng khô ráo, nàng biết rằng không một giọt lệ nào trả lại được người chồng cho nàng. Trong lúc ban đêm chúng tôi nhận được giấy phép cho lên tàu Eastern Star. Viên thuyền trưởng, ông Hines, đợi chúng tôi trên boong, sẹ lo buồn và bối rối đã hằn lên trên bộ mặt da đồng của ông, và ông tìm những từ để loan báo hung tin: nàng ngắt lời ông.
- Tôi biết rằng chồng tôi đã chết, nàng nói, ông ấy đã chết tối hôm qua, vào lúc mười giờ, ở bệnh viện Madère, có phải vậy không?
Người thủy thủ nhìn nàng, sững sờ.
- Khồn, thưa bà. Ông ấy chết tám ngày rồi, ở trên biển và chúng tôi đã buột lòng phải thủy táng ông ấy ở đó, vì chúng tôi thấy mình đang ở một khu vực yên tĩnh và chúng tôi đã không biết khi nào thì chúng tôi sẽ tới bờ.
Đó là những sự kiện chính yếu liên quan tới cái chết của John Vansittart, cũng như về sự xuất hiện của ông ấy tại một nơi nào đó vào khoảng độ 35 bắc vĩ – tuyến và độ 15 tây kính tuyến. Một hồn mà hiện hình rõ rệt hơn thật ít khi xảy ra, do đó nó đã là đề tài của nhiều cuộc tranh luận, của nhiều bài viết. Nó đã được xác nhận bởi giới bác học và nó đã làm dầy thêm tập hồ sơ mới được mở ra gần đây về sự thần giao cách cảm. Về phần tôi, tôi chủ trương là sự thần giao cách cảm không có gì để nghi ngờ, nhưng tôi muốn rút trường hợp này ra khỏi tập hồ sơ và tôi muốn nói rằng chúng tôi đã không trông thấy sự xuất hiện của hồn ma John Vansittart, mà đúng là John Vansittart bằng xương bằng thịt, vọt lên từ đáy sâu của Đại Tây Dương dưới ánh trăng. Tôi luôn luôn tin rằng một sự ngẫu nhiên phi thường (Một trong các sự ngẫu nhiên rất ít có khả năng xảy ra này, tuy nhiên lại vẫn thường xảy ra ) đã làm cho chúng tôi đứng bất động bên trên chính ngay cái chỗ mà người đàn ông đó đã bị chôn vùi trên biển một tuần lễ trước. Về phần còn lại, vị y sĩ đã nói với tôi là quả tạ bằng chì không được cột chặt, và bảy ngày đã mang tới cho cái xác chết vài sự thay đổi nào đó có thể làm cho nó nổi lên mặt nước. Quả tạ đã làm nó chìm sâu xuống đấy biển. Nếu quả tạ tách rời ra xác chết có thể lại chồi lên mặt nước với sự đột ngột mà chúng tôi đã chứng kiến. Đó là lời giải thích của vị y sĩ. Tới chỗ muốn biết rõ ràng hơn nữa, tôi coi đó là phận sự của tôi, và nếu nhắc lại với bạn về cái tiếng động khô khan của sự rập gẫy, của sự xé rách, cũng như sự xao động trong nước biển. Những con cá mập kiếm ăn trên mặt nước, và chúng đông lúc nhúc trong miền này.

Bồ Câu Trắng

Nhà đạo sĩ đi gần tới bờ sông Linh thì mặt trời sắp lặn nhuộm mặt nước chan hòa sắc máu. Ngẩng nhìn trời xanh, lâm râm đọc bản kinh cầu nguyện ban tối, đạo sĩ chợt thấy một đàn bồ câu trắng bay tấp tới đến trước mặt mình rồi vây quanh. Đạo sĩ dừng chân lại, nhìn thấy một con rắn đốm hoa lớn đang bò lên một cây cao bên đường đầy những tổ chim bồ câu hoang. Lá cây xanh và những chồi non nhắc đạo sĩ nhớ tới mùa xuân, mùa sinh nở của loài chim giang hồ. Những chim mẹ bay quấn quít gần tổ con chưa đủ lông, đủ cánh để thoát khỏi tai họa ghê gớm sắp đến một bên mình. Đạo sĩ huơ gậy vụt vào đầu con rắn chết tươi.
Tối đến, đạo sĩ trọ ở túp lều tranh của người đưa thuyền, đợi hừng sáng chuông đổ thì sang sông. Trước khi đi ngủ, đạo sĩ ngồi vọng niệm dâng cao thần trí lên trời. Đêm lạnh lùng thêm giá rét vì gió thổi ở bãi sông đưa lên. Trăng xanh như lời cầu nguyện lọt qua khe cửa soi vào chỗ đạo sĩ tĩnh tọa.
Trong khi đạo sĩ ngồi nhắm mắt tâm niệm thì cửa len lén mở, một người đàn bà bước vào, đến ngồi gần bếp lửa của kẻ đưa thuyền đã đốt lên cho khách sưởi. ánh lửa lấp lánh trên khuôn mặt long lanh một nhan sắc rực rỡ, dữ dội. Hai mắt đen huyền chứa chan điện lực, đôi môi đỏ thắm sắc máu, thân hình uốn éo như sương khói trong làn áo đen lốm đốm những hoa như mình rắn – vì người đàn bà ấy là hiện thân của con rắn đến báo thù.
Người đàn bà xà tinh chăm chú nhìn vào mặt đạo sĩ như thôi miên. Tự con yêu tinh khởi bốc một mùi hương sắc dục lan tràn như làn sóng điển khí đến bao vây đạo sĩ. Nhưng linh hồn nhà tu hành đắm đuối trong hương thơm huyền diệu của đức tin, không để ý tới ma lực quyến rũ của sắc dục đang kết tinh trong không khí mình thở.
Người đàn bà xà tinh chập chờn lại gần đạo sĩ lả lơi hát một khúc ca dâm đãng gợi tình, nhưng đạo sĩ vẫn không hay biết gì hết vì còn mải mê theo điệu nhạc sáng láng của bài kinh.
Người đàn bà xà tinh đến trước mặt đạo sĩ nằm nghiêng ngửa. Nhưng đôi mắt đạo sĩ vẫn nhắm nghiền và đang dõi theo hình ảnh rạng ngời hiện ra sau bài kinh.
Người đàn bà xà tinh xích lại gần hơn trong một dáng điệu khiêu khích nồng nàn. Nhưng đạo sĩ vẫn thì thầm đọc kinh và đang ngớp lên vì màu sắc phương phi của đạo.
Người đàn bà xà tinh liền đưa hai cánh tay trắng tinh ra định quàng lấy vai đạo sĩ, hơi thở sắc dục nóng hổi một bên má người. Nhưng đạo sĩ vẫn ngồi yên đọc kinh và lời kinh huyền diệu khiến người đàn bà xà tinh không dám xúc phạm đến nhà tu hành.
Đạo sĩ cứ lạnh lùng thản nhiên, không biết rằng người đàn bà định cám dỗ mình vào vòng tội lỗi là hiện thân con rắn.
Lúc ấy đã gần nửa đêm, và người đàn bà xà tinh phải làm xiêu lòng đạo sĩ trước khi chuông nhà thờ đổ. Nó đã nghĩ ra được một cách ghê gớm để trả thù kẻ đã giết mình: nhà đạo sĩ sẽ chết ở trong tay nó và sẽ mất linh hồn. Làm cho mất linh hồn, cái ý tưởng vô cùng sâu độc đã nẩy nở ra trong óc con xà tinh, vì nó không muốn chỉ giết được phần xác của đạo sĩ mà thôi.
Người đàn bà xà tinh biến thân xác ra để lôi cuốn nhà đạo sĩ đắm chìm trong sắc dục cho bỏ hết những năm tu hành và rồi sẽ bị nó phun nhả nọc độc vào miệng chết. Nhưng đạo sĩ vẫn đọc kinh và người đàn bà xà tinh không thể xúc phạm gì được trong lúc những lời kinh còn rung động lòng người tu hành.
Đến nửa đêm, nhà đạo sĩ đã đọc hết những bài kinh cầu nguyện thuộc lòng, và mệt mỏi sau một ngày đi đường xa, nằm xuống ngủ say, không để ý hay biết gì đến cái tai họa ác liệt sắp xẩy đến cho mình.
Người đàn bà xà tinh khoái trá vì sắp sửa được báo thù, và lần này thì đạo sĩ không thể thóat khỏi được nữa. Những lời kinh cũng đã hết thì thầm rung động lòng người tu hành. Nhưng đàn bồ câu trắng đã thấy biết người đàn bà là hiện thân của con rắn đến báo oán. Và chúng cầu nguyện cho ân nhân. Chúng muốn gọi nhà đạo sĩ dậy nhưng không biết làm thế nào, vì chúng chỉ là những con chim bé nhỏ.
Thế rồi thình lình chuông bỗng đổ, tiếng chuông thần bí vụt kêu lên giữa lúc nửa đêm. Tiếng chuông vang động, tuôn ra những lớp sóng đồng huyền diệu, vươn cao lên tới trời xanh.
Đàn bồ câu trắng đã bay đến cái chuông lớn của giáo đường gần đó. Một con đem hết sức lực bé nhỏ bay liệng mình vào thành chuông rồi rớt xuống chết vì sự động chạm dữ dội. Một con khác, rồi một con khác, bay đánh chuông kêu lên rồi rớt xuống chết. Đàn bồ câu trắng cứ đánh chuông kêu lên cho đến khi người đưa thuyền và đạo sĩ nghe tưởng là trời hừng sáng, dậy qua sông.

Độc Huyền

Ven bờ một dòng sông lớn thuộc ngoại ô thành phố nọ, có một xã cù lao. Dân ở đây phần lớn sống bằng nghề chài lưới, giăng câu và một số canh tác trên những khoảng đất hẹp. Về phía cuối cù lao dân cư thưa thớt, chỉ có dăm bảy nóc nhà nhưng trong ấy có một gia đình khá nổi tiếng. Họ không nổi tiếng về sự giàu có, dân cù lao chẳng mấy ai giàu, mà nổi tiếng vì chủ gia đình vốn là một danh cầm từng theo đàn cho những gánh hát lớn. Nhưng không biết vì sao người nghệ sĩ ấy bỏ gánh hát, ôm cây đàn độc huyền trở về quê. Người thì đồn anh ta thất tình một cô đào thương vốn là nhân tình của bầu gánh, kẻ lại bảo chỉ đơn giản vì chán làm cánh chim lang bạt nên anh ta ôm đàn về quê cưới vợ. Không biết ai đúng, chỉ thấy anh ta cưới vợ thật và sinh được một đứa con trai. Đêm đêm, khi xóm cù lao ngủ sớm, những người làm nghề câu thường nghe vẳng tiếng độc huyền ai oán, nhức nhối mà đầy ma lực từ phía căn nhà ấy vọng ra lan khắp trên mặt sông như một lời nỉ non tiếc nuối về một thuở xa xôi…

Năm tháng dần trôi qua, đứa bé lớn lên như mọi đứa trẻ bình thường khác nhưng lại được người cha mang dòng máu nghệ sỹ dạy đàn rất sớm. Nhưng rồi đứa bé sớm mồ côi mẹ còn cha thì lâm vào cảnh nghiện ngập và cũng mất đi khi nó tròn mười sáu tuổi. Không nghề nghiệp, gia sản chỉ là một mảnh vườn nhỏ và cây đàn một dây, cậu bé đành về sống nương nhờ bên ngoại. Nhưng ông bà ngoại thì quá già còn cậu mợ thì hất hủi nên chỉ được vài năm cậu bé, giờ đã ra dáng thanh niên, đành trở về căn nhà xiêu vẹo của mình, xin học nghề câu ở một ông lão tốt bụng và đêm đêm lại đem đàn ra gảy những khúc bi ai.
Xóm làng đông đúc lên dần, chàng trai cũng trưởng thành nhanh chóng. Rồi cái nòi tình lại xui chàng đem lòng yêu một cô gái duyên dáng, xinh đẹp nhất vùng mà ngày ngày vẫn đi ngang nhà chàng để ra bến đò qua chợ. Đáng buồn thay nàng là con nhà khá giả nhất cù lao trong khi chàng chỉ có túp lều rách với một cây độc huyền. Mà người ta ai còn cần đến cây đàn cổ xưa này nữa? Đám thanh niên trạc tuổi chàng chỉ biết chơi ghi ta và chê tiếng đàn một dây ai oán, không thích hợp với những giai điệu mới. Thậm chí có một vài người có uy thế trong vùng còn hăm dọa sẽ đem ném cây đàn xuống sông vì họ cho rằng tiếng đàn ấy cũng như tiếng tiêu, tiếng sáo sẽ đem lại điều xui xẻo cho cả địa phương!
Trái tim chàng trai sớm mang dòng máu tài hoa như bị bóp nát mỗi khi chàng nhớ về người mà chàng yêu thầm nhớ vụng. Cô gái vẫn vô tình, thậm chí có hôm cô đi cùng với mấy chàng trai hoạt bát, hào phóng và họ thản nhiên đùa giỡn khi đi ngang qua căn nhà lá bé nhỏ đang chứa đựng một linh hồn run rẩy vì tuyệt vọng.
Nhưng dù ôm mối tuyệt tình chàng cũng phải ra đi hàng đêm cùng đi với những chiếc cần câu. Chàng chỉ có một công việc ấy để kiếm sống. Và khuya về, những khuya mùa khô gió bấc non se sẻ thổi, không thể nào ngủ được chàng lại đem đàn ra gảy. Tiếng đàn lại càng tha thiết, bi thương hơn bao giờ hết. Dưới ánh trăng, những tán lá trong vườn cũng run lên bần bật vì những sợi tơ âm thanh như đang cuốn lấy chúng mà dày vò. Những người đi giăng lưới khuya chép miệng: “Thằng nhỏ giống ông già nó. Rồi cũng khổ một đời!”.
Nhưng họ đã lầm. Chính tiếng đàn ấy đã đem đến cho chàng trai những đêm tuyệt diệu trong cơn hoan lạc ái tình. Một đêm kia, khi vầng trăng non sắp lặn, chàng đang chìm đắm trong một khúc nhạc do chính cha chàng sáng tác và truyền lại thì bỗng sững sờ, bàn tay trên cần phím quắp lại cứng đờ và miệng lắp bắp mãi không nói được một câu. Đứng kề bên chàng, không biết tự bao giờ là người mà chàng hằng mơ tưởng, hằng khát khao.
-Sao anh không đàn nữa?
-Tôi… tôi…
-Em hiểu những gì mà anh gởi gắm qua tiếng độc huyền này. Em đến với anh đây!
Cô gái bạo dạn lạ lùng. Thế nhưng chàng trai bất ngờ đến suýt vỡ tim thì không còn chỗ cho lý trí làm việc. Lúc ấy chàng chỉ thiếu điều quỳ xuống ôm lấy chân nàng mà thôi.
-Đàn nữa đi anh! Em thích nghe lắm! Cô gái nhắc, giọng nói thánh thót như một chuỗi nốt nhạc.
Nhưng với bàn tay run rẩy chàng không còn làm chủ được cả âm thanh lẫn giai điệu nữa. Cô gái cười khúc khích:
-Chắc tại em đến làm anh không đàn được. Thôi em về đây! Cô dợm bước nhưng chàng trai đã nhanh hơn. Họ ngã vào nhau và mê đắm ngay từ phút đầu. Trăng lặn, cây đàn không lên tiếng nữa…
Gần sáng, cô gái vuốt lại tóc, sửa lại quần áo rồi bảo:
- Em dặn anh điều này và anh phải nhớ cho thật kỹ. Cha em không thích anh nên nếu mà ban ngày có gặp nhau ta cũng nên xử sự như hai người xa lạ. Anh nhớ nghen. Rồi em sẽ đến từng đêm!
Chàng đồng ý ngay. Tất cả mọi chuyện quá đột ngột và còn hơn cả trong mơ. Khi nàng đã nhanh nhẹn và uyển chuyển khuất sau con đường nhỏ đã bắt đầu mờ mờ sáng chàng nâng cây đàn lên môi và hôn thắm thiết. Nhờ nó mà chàng đã chinh phục được người mình say mê. Giờ đây chính cây đàn cũng nhuốm một mùi hương ngây ngất.
Cứ vậy, sau khi chàng đi câu về, ngồi đánh một hai bản nhạc là nàng đến. Họ lại đắm đuối như mọi cặp tình nhân mới bắt đầu hưởng vị trái cấm. Nhiều lúc chàng mê man không còn nhớ về bất cứ chuyện gì. Đang sức trai mới lớn nhưng chàng cũng gầy đi vì những đêm hoan lạc còn những người giăng lưới khuya thì kháo nhau: “Quái! Độ rày tiếng đàn thằng nhỏ nghe lạ lùng quá. Hình như là âm u hơn. May mà nó đã ít đi!”.
Gần một năm trôi qua. Mọi chuyện vẫn bình thường đến nỗi không một ai để ý hoặc tò mò gì. Vào buổi sáng, cô gái duyên dáng nhất vùng ấy vẫn đi ngang qua nhà chàng để đến bến đò qua chợ. Đôi khi chạm mặt nhau họ làm ngơ như đã giao ước từ ngày đầu. Nhưng một đêm nàng bảo:
-Vài hôm nữa sẽ có người đến cưới em nhưng mong anh đừng buồn. Em đã lo liệu hết rồi!
Cả cù lao như sụp xuống đáy sông sâu sau câu nói ấy. Chàng nắm lấy vai nàng lắc mạnh:
-Cưới em? Tại sao em lại bỏ anh?
-Anh! Nàng đáp buồn – Ba em đã hứa gả và bắt buộc phải nghe lời. Nhưng từng đêm em vẫn đến mà. Anh đừng lo!
-Làm sao mà em đến được nếu như em lấy chồng? Chồng em rồi sẽ biết và anh sẽ mất em!
-Em đã lo xong hết rồi! Sẽ không ai biết!
Nàng đáp với một nụ cười bí ẩn và quyến rũ nhất. Và chàng lại mê man chìm vào đôi gò ngực rắn chắc mà bồng bềnh như sóng cù lao.
Mấy hôm sau thì đám cưới thật. Đó là cái đám cưới lớn nhất cù lao từ trước đến nay. Nhà trai ở bên kia sông tức là bên thành phố. Cô dâu cười rồi lại khóc nức nở khi con đò rước dâu rời khỏi bến nhưng mọi người chứng kiến đều thấy rõ đó là những dòng lệ chứa chan hạnh phúc!
Thế nhưng kỳ lạ làm sao, đêm ấy, nghĩa là ngay trong đêm động phòng hoa chúc, khi mà chàng trai ôm đàn gảy những khúc tuyệt vọng thì lá cây lay động ở đầu ngõ rồi nàng hiện ra. Vẫn nóng bỏng, vẫn mềm mại, vẫn ngát thơm…
Họ lại đắm chìm trong cơn hoan lạc. Và gần sáng, nàng lại vuốt lại mái tóc, sửa quần áo ra về. Và cứ như thế từng đêm…
Bây giờ chàng không đủ sức để đi câu đêm nữa. Chàng chỉ có thể quanh quẩn nơi bến sông trước nhà dùng chài và lưới mành bắt những con cá nhép sống đắp đổi và đợi chờ đêm đến. Chỉ có màn đêm mới đem lại hạnh phúc cho chàng dù càng ngày chàng càng cảm nhận được rằng đó là một hạnh phúc đầy ắp phù du.
Thành phố bên kia ngày một đông đúc, chật chội. Rồi chính quyền thành phố công bố một bản quy hoạch mới theo đó xã cù lao sẽ thành một khu dân cư cao cấp dành cho người giàu đến an dưỡng và những nhà cao tầng sẽ xây lên cho người nước ngoài thuê. Người ta làm móng để đúc một chiếc cầu lớn qua sông, nối cù lao và nội thành. Đất trở nên đắt như vàng. Mọi dân cư ở đây đều xôn xao bởi bỗng chốc họ trở thành giàu có tột cùng. Người ta bỏ làm vườn, bỏ nghề câu để bàn về việc bán đất và xây nhà, sắm xe. Chỉ có chàng trai hạnh phúc và bất hạnh kia thì vẫn thờ ơ với mọi biến cố. Thế nhưng một đêm kia nàng đến với khuôn mặt u buồn nhất và bảo:
-Em đến để vĩnh biệt anh!
-Vĩnh biệt? Chàng bàng hoàn.
-Phải. Chúng ta không thể gần nhau được nữa. Em phải đi xa vì bị trục xuất!
-Ai trục xuất em? Em không thể đi! Không thể bỏ anh. Anh sẽ chết vì thiếu em!
Nàng lại hôn và lại vuốt ve chàng bằng đôi môi nóng bỏng và thành thạo. Thời gian đi rất nhanh. Mới đó mà đã qua đêm…
- Nghe em dặn đây – Khi từ giã nàng nói: – Và anh đừng bao giờ cãi lời em nếu không thì sẽ là tai họa. Từ đây, nếu có bao giờ gặp lại em thì anh hãy nhớ, bất kỳ trong hoàn cảnh nào, trong thời gian nào đôi ta vẫn là người xa lạ!
Chàng gật đầu. Mấy năm sau chàng đã quen không cãi nàng dù chỉ nửa lời. Nhưng nước mắt chàng rơi lã chã. Họ chia tay nhau như vậy.
Sáng hôm sau chàng nhìn thấy từng đoàn nhân công xây dựng kéo qua nhà mình. Cây cầu lớn đã hoàn thành. Giờ họ đến đây san nền chuẩn bị xây một tòa nhà lớn trên mảnh đất cách nhà chàng vài trăm mét. Cả ngày hôm ấy họ đào làm móng nhà và phát hiện ra vô số xương nhưng bên dưới. Thì ra đó là một nghĩa địa cũ chắc đã bị bỏ quên từ bao nhiêu năm. Những xương đào lên ấy được bỏ chung vào một cái quách lớn và đem đốt đi theo lệnh những chủ thầu xây dựng.
Đêm ấy tiếng đàn như một lời rên. Những công nhân nằm cạnh ngôi nhà ấy rùng mình ngỡ như có tiếng thở thanh của những linh hồn trong khu nghĩa trang vừa phát hiện đang hiện về ám ảnh. Nhưng nửa đêm tiếng dây đàn đứt “phựt” rồi im bặt!
Đất cù lao, giờ nhộn nhịp như nội thành và vẫn tiếp tục lên giá đến khó tin. Cái nền nhà và mảnh vườn nhỏ của chàng nếu bán cũng có thể nuôi chàng cả đời. Nhưng chàng không bán, đêm đêm vẫn ngồi chơi đàn trong nỗi chờ đợi tuyệt vọng và tiếng đàn càng ngày càng làm người ta nổi da gà vì mức độ truyền cảm đầy u uất.
Một hôm có một thương gia trẻ đến tìm chàng và trả giá một trăm lượng vàng cho tất cả số đất mà chàng sở hữu. Còn đang kỳ kèo thì vợ người thương gia ấy bước vào. Chàng trai ngây ra và bừng tỉnh. Chàng xông lại ôm cứng lấy người thiếu phụ trong tiếng kêu mê sảng. Đó chính là nàng. Người tình mê đắm vẫn đến hàng đêm. Hai vợ chồng người thương gia trẻ vừa hốt hoảng vừa giận dữ. Cô vợ kêu thét lên và anh chồng xông vào. Khi mọi nhưng xúm lại thì chàng câu cá – chơi đàn đã ngất xỉu vì bị đánh mạnh vào đầu.
-Hắn khùng rồi! Thôi anh chị chấp trách làm gì!
-Chính cây đàn độc huyền này đã hại hắn! Cây đàn như có ma. Phải ném bỏ nó đi!
Họ đem cây đàn vứt xuống sông. Chàng trai vẫn bằn bặt. Trong cơn mê, chàng thấy nàng hiện ra, vẻ mặt thương cảm:
-Em đã dặn anh rồi! Cô ấy không phải là em. Em chỉ là một linh hồn sống trong nghĩa trang kế bên. Vì yêu tiếng đàn và hiểu anh đang ôm mối tuyệt tình nên mới hiện lên giao duyên bằng hình ảnh ấy. Giờ thì họ đã phá vỡ, đã đốt bỏ nơi trú ngụ của em rồi và em phải ra đi. Hãy quên em!
Nàng xa dần rồi tan ra như một làm sương.
Người ta cạo gió, giật tóc mai, đổ gừng nóng vào miệng và chàng dần hồi tỉnh. Sau đó vài hôm chàng kêu bán mảnh đất của mình và bỏ đi biệt tăm. Cù lao nhanh chóng thành một nơi sầm uất với phố xá và xe cộ ken dầy. Vợ chồng người thương gia trẻ dọn về đó ở. Họ xây lên một căn nhà đẹp và mở một tiệm cà phê sang trọng. Ở đó họ đặt một dàn máy hát karaokê hiện đại. Và giờ đây hàng ngày có rất nhiều thanh niên nam nữ dắt tay nhau vào vừa hát vừa gào:
“Không, tôi không còn, tôi không còn yêu anh nữa! Không…”
Mấy ai còn nhớ tiếng độc huyền xưa?