'cookieChoices = {};'

Thursday, October 2, 2014

7 suối nước nóng




1. Suối nước nóng Glenwood Springs


Nằm ở bang Colorado, suối Glenwood được xem là bể bơi nước nóng tự nhiên lớn nhất thế giới. Bạn có thể vừa ngâm mình trong bể trị liệu chứa nhiều khoáng chất tự nhiên với nhiệt độ lên đến 40°C vừa ngắm nhìn khung cảnh núi non thơ mộng xung quanh. Đây là một trong những điểm đến lý tưởng trong những ngày đông lạnh giá.










2. Suối nước nóng Bains De Dorres, Pháp


Nằm trong dãy núi Pyrenees, gần biên giới Tây Ban Nha, suối nước nóng Bains De Dorres là một trong những điểm đến thu hút rất đông khách du lịch trong những ngày giá lạnh. Ngâm mình trong nước suối khoáng có nhiệt độ từ 37-40 độ C và ngắm nhìn xuống thung lũng tuyệt đẹp bên dưới sẽ khiến bạn cảm thấy thoải mái và khoan khoái hơn sau những giờ làm việc căng thẳng. Nơi đây mở cửa hàng ngày từ 9 giờ sáng tới 10 giờ tối.











3. Hồ bơi tự nhiên Myvatn, Iceland


Hồ nước nóng tự nhiên Myvatn là một trong những điểm đến mà bạn không thể bỏ qua khi tới Iceland. Nằm ở trung tâm của phía đông bắc đất nước, hồ Myvatn được hình thành bởi sự phun trào của núi lửa và các hoạt động địa chấn liên tiếp xảy ra. Nơi đây mở cửa quanh năm đón khách du lịch. Mùa hè từ 9 giờ sáng tới nửa đêm và mùa đông từ 12 giờ trưa tới 22 giờ tối.








4. Hồ nước nóng tự nhiên Héviz, Hungary

Từ hàng nghìn năm nay, tổ tiên của người Hungary đã tin rằng việc ngâm mình trong nước khoáng nóng có tác dụng trị bệnh, đặc biệt liên quan tới bệnh ngoài da hay viêm khớp. Héviz là hồ nước nóng tự nhiên nổi tiếng nhất của Hungary.



Nước khoáng trong hồ và lớp bùn đen dưới đáy hồ được cho là có tác dụng trị bệnh phong thấp cùng nhiều bệnh liên quan đến hệ thần kinh. Các khu spa chăm sóc đặc biệt mọc lên "như nấm" xung quanh khu vực này để cung cấp cho du khách những dịch vụ tốt nhất.






5. Suối nước nóng Radium, Canada


Suối nước nóng Radium nằm trong khu làng cùng tên, thuộc khuôn viên của vườn quốc gia Kootenay bang British Columbia, Canada. Suối nước nóng nổi tiếng này gồm hai hồ nhỏ. Hồ thứ nhất có nhiệt độ khoảng 39 độ C, hồ thứ hai có nhiệt độ thấp hơn, khoảng 29 độ C với rất nhiều khoáng chất và một số lượng rất nhỏ của radium.



Hàng năm, nơi này đón hàng triệu lượt khách du lịch tới để thả mình vào làn nước ấm áp, tìm lại cảm giác sảng khoái, thoải mái sau những ngày làm việc mệt mỏi. 









6. Suối Pamukkale, Thổ Nhĩ Kỷ



Suối nước nóng Pamukkale là một trong những địa điểm nổi tiếng nhất của Thổ Nhĩ Kỳ. Nếu có dịp đặt chân tới nơi này, bạn sẽ phải kinh ngạc khi thấy cả một vùng đồi trắng tinh với những "bậc thang" hồ nước màu xanh lam nhạt nối tiếp nhau trải dài xuống thung lũng.

Hàng năm, nguồn suối nước nóng khoáng chất này thu hút đông đảo lượng khách du lịch không chỉ bởi thắng cảnh tuyệt đep mà còn bởi nhiều người tin rằng những khoáng chất của dòng nước tại đây giúp họ cảm thấy khỏe mạnh và yêu đời hơn.







7. Suối nước nóng của Saturnia, Italy

Hàng năm, suối khoáng Saturnia thu hút hàng triệu khách du lịch tới nơi đây để ngâm mình và tận hưởng nhiều dịch vụ spa, xông hơi, tắm bùn thú vị. Với nhiệt độ nước lý tưởng là 37,5 độ C, nơi đây vừa là khu spa nổi tiếng nhất xứ sở mỳ ống vừa là một trong những hồ nước nóng nổi tiếng nhất châu Âu.










Hồ nước nóng thiên nhiên



Héviz là hồ nước nóng tự nhiên nổi tiếng nhất Hungary, chứa nhiều loại khoáng chất, rất hữu hiệu trong việc chữa trị những bệnh ngoài da và bệnh liên quan đến thần kinh.


Hồ Heviz nằm gần thị trấn Heviz của Hungary, gần cuối phía tây của hồ Balaton, cách Keszthely khoảng 8 cây số. Heviz là hồ nước nóng lớn nhất ở châu Âu và lớn thứ hai trên thế giới với diện tích bề mặt là 47,500 mét vuông. Dòng nước nóng bắt nguồn từ các vết nứt dưới lòng hồ, thường có nhiệt độ khác nhau, sau đó trộn lẫn với nước lạnh trong hồ và khuếch tán rộng ra. Sự trộn lẫn nước nóng – lạnh với nhau làm hồ luôn duy trì một nhiệt độ ổn định qua các mùa.


Nước trong hồ Heviz rất chứa nhiều khoáng chất như axit cacbonic, lưu huỳnh, canxi, magiê, hydro cacbonat và thậm chí là một chút chất phóng xạ, được cho là có đặc tính chữa bệnh.



Ở trung tâm hồ có một nhà tắm bằng gỗ được xây dựng vào thế kỷ 18, vẫn còn giữ nguyên vẻ cổ kính như những ngôi nhà hơn 200 năm tuổi khác. Loài hoa súng xinh đẹp được đưa đến Hungary vào cuối thế kỷ 19, và người ta trồng hoa xuống lòng hồ để tăng thêm vẻ đẹp và hỗ trợ thêm cho hệ sinh thái phong phú cho hồ. Sương mù bao phủ bề mặt làm chậm quá trình bay hơi và rong tảo, dây leo, bảo vệ lớp bùn đen có tác dụng trị bệnh nằm dưới đáy hồ.

Lớp bùn đen nằm dưới đáy hồ được nuôi dưỡng bằng hai dòng nước lạnh và ấm, rất giàu khoáng chất, bắt nguồn từ các con suối nằm trong các hang động sâu 40 mét. Dòng chảy của con suối rất mạnh, liên tục bù đắp lại lượng nước và khoáng chất thất thoát của hồ. Vào mùa đông, nhiệt độ trong hồ dao động từ 23 đến 25 độ C, và 33 đến 36 độ C vào mùa hè.



Người Hungary tin rằng, việc ngâm mình trong nước khoáng nóng có thể trị được bệnh, đặc biệt là các bệnh ngoài da và bệnh viêm khớp. Cho nên, những chuyến du lịch chăm sóc sức khỏe đến hồ Heviz không xa lạ gì đối người dân bản xứ. Xung quanh khu vực hồ Héviz, các khu spa chăm sóc đặc biệt mọc lên như nấm, nhằm mang lại cho du khách những dịch vụ tốt nhất.

Rượu vang Napa Valley





Nằm trong vùng Vịnh San Francisco, Napa Valley là khu vực chính yếu của Hoa Kỳ chuyên trồng nho làm rượu vang, và một trong những vùng rượu vang lớn trên thế giới. Vùng này cũng nổi tiếng nhờ các nhà hàng dành cho những người sành ăn, các tiệm cà phê, và các trung tâm điều trị bằng spa.




Nhà thờ Mont La Salle nằm trên đồi giữa những vườn nho nhìn xuống thung lũng Napa.
Đây là nơi tĩnh tâm cũng như phòng họp của nhóm sản xuất rượu Christian Brothers







Những chai rượu vang thuộc bộ sưu tập của hãng Hess được trưng bày trong phòng tiếp tân của hãng tại Napa Valley.
Không những là một khu vực rượu vang nổi tiếng trên thế giới, Napa Valley còn là một trong những đích điểm du lịch được ưa chuộng nhất ở California. Mỗi năm có hơn ba triệu du khách đến đây, làm cho đường sá trở nên quá đông đúc vào những dịp cuối tuần mùa hè.




Phòng trưng bày rượu nho The Hess Collection Winery Visitor Center, tại Napa.




Vườn nho gần cổng vào trại Rubicon Estate Winery ở Rutherford 


Không những là một khu vực rượu vang nổi tiếng trên thế giới, Napa Valley còn là một trong những đích điểm du lịch được ưa chuộng nhất ở California. Mỗi năm có hơn ba triệu du khách đến đây, làm cho đường sá trở nên quá đông đúc vào những dịp cuối tuần mùa hè.

Thời gian cao điểm là các tháng mùa hè và mùa thu hoạch nho trong tháng 9 và tháng 10. Vùng thung lũng Napa Valley là nơi có hơn bốn trăm nhà máy rượu vang. Với rượu vang làm tiêu điểm, việc ăn uống thịnh soạn đương nhiên xuất hiện để bổ sung cho rượu vang. Truờng dạy nấu ăn Culinary Instritute of America tại Greystone ở St. Helena cung cấp đều đặn các đầu bếp được đào tạo kỹ lưỡng, bổ sung cho các đầu bếp đã có uy tín được thu hút bởi danh tiếng và địa điểm của Napa Valley.




Napa Valley hưởng được khí hậu giống như Địa Trung Hải. Mùa hè được đánh dấu bởi trời ấm cho đến trời nóng, những ngày nắng rực, những đêm mát mẻ, và ít mưa hoặc không có mưa. Mùa đông thì ôn hòa, và nét đặc trưng là thỉnh thoảng có mưa xen kẽ với những ngày trời nắng, thỉnh thoảng có sương giá. Tuy nhiên thường ít có tuyết.

Từ San Francisco, chuyến đi đến vùng này kéo dài khoảng mộtgiờ rưỡi chạy trên xa lộ Highway 101 North, băng qua cầu Golden Gate, tới đường thắng cảnh Route 37.


Wednesday, October 1, 2014

Tiểu thuyết kiếm hiệp


1.Thời kỳ tiền kiếm hiệp

Truyện kiếm hiệp có từ bao giờ? Đây là câu hỏi không dễ trả lời. Có người cho rằng tiểu thuyết kiếm hiệp bắt đầu từ những trang viết của Thái Sử Công Tư Mã Thiên (145 TCN – 86 TCN) trong thiên Du Hiệp truyện. Trong đó, Thái Sử Công đã ghi lại câu truyện truyền kỳ của những kẻ du hiệp, coi thường pháp luật, dùng cái dũng khí và bản lĩnh nam nhi mà nổi danh thiên hạ. Những bài thơ của Thi tiên Lý Bạch nói về kiếm hay Thi thánh Đỗ Phủ mô tả kiếm thuật của Công Tôn đại nương với câu: “Nhất vũ kiếm khí động tứ phương” kích thích trí tưởng tượng của những nhà viết tiểu thuyết kiếm hiệp cao độ. Chuyện kết hợp giữa kiếm pháp và thư pháp tưởng như chỉ xuất hiện ở những tác phẩm kiếm hiệp hiện đại nhưng thực ra Thư thánh Trương Húc đã từng viết: “Khi xem Công Tôn đại nương múa kiếm, tôi mới lĩnh hội được thần và ý cho thư pháp”. Sau đó, những câu truyện trong Thủy Hử truyện của Thi Nại Am cũng mang đầy sắc mầu kiếm hiệp như truyện Võ Tòng đả hổ, Võ Tòng sát tẩu, Lý Quỳ giết hổ v.v… Hay như truyện Thất Hiệp Ngũ Nghĩa (khuyết danh) với truyền kỳ về Bao Thanh Thiên và những đồng sự của mình với kiếm pháp vô song của Nam hiệp Triển Chiêu cũng là những nét chấm phá đầu tiên định hình lên dòng tiểu thuyết kiếm hiệp sau này.

2.Kiếm hiệp đầu thế kỷ 20

Tiểu thuyết kiếm hiệp dần được hình thành và phát triển với dấu mốc quan trọng của Hoàn Châu Lâu Chủ (1902-1961).
Với tác phẩm Thục Sơn Kiếm Hiệp, Hoàn Châu Lâu Chủ đã tạo một bước ngoặt lớn lao cho dòng tiểu thuyết kiếm hiệp. Thứ nhất, Hoàn Châu Lâu Chủ là người đầu tiên viết truyện kiếm hiệp theo kiểu phơi-ơ-tông đăng tải hàng ngày trên báo chí. Thứ hai, tác phẩm Thục Sơn Kiếm Hiệp của Hoàn Châu Lâu Chủ đã tạo ra một thế giới kiếm hiệp kỳ ảo khiến người đọc vô cùng say mê. Năm 1932, tác phẩm Thục Sơn Kiếm Hiệp của Hoàn Châu Lâu Chủ đã tung hoành trên tờ Thiên Phong báo (Thiên Tân). Với sức tưởng tượng phi phàm, kết câu truyện ly kỳ, Hoàn Châu Lâu Chủ đã tạo nên một tác phẩm đậm màu sắc kiếm hiệp với nhân vật truyền kỳ của phái Nga My. Điểm đặc biệt khiến Hoàn Châu Lâu Chủ có ảnh hưởng lớn đến những tác gia kiếm hiệp sau này là việc ông đã rất thành công trong việc xây dựng kết hợp mô tả nhân vật với mô tả cảnh trí thiên nhiên, giảng giải văn hóa với nhiều đoạn tuyệt bút văn phong tuyệt mỹ kích thích cao độ trí tưởng tượng của người đọc. Thục Sơn Kiếm Hiệp là nền tảng để một loạt những tác phẩm đương thời ra đời như Giang Hồ Kỳ Hiệp của Bình Giang Nhất Tiếu Sinh (1890 - 1957), “Kỳ Hiệp Tinh Trung truyện” của Triệu Hoán Đình (1877 - 1951), “Thập Nhị Kim Tiền Tiêu” của Bạch Vũ (1901 - 1966) v.v.. Tuy nhiên, điểm yếu của Hoàn Châu Lâu Chủ cũng như điểm yếu của khá nhiều tác gia kiếm hiệp sau này là câu chuyện ban đầu quá rộng lớn, thành ra nhân vật tản mát, tác giả viết bút lực càng ngày càng cạn kiệt dần khiến độc giả ban đầu còn thích thú, càng về sau càng cảm thấy chán nản.

3.Kiếm hiệp hiện đại – Tiền Kim Dung

Kim Dung đương nhiên là một cột mốc lớn của loại hình tiểu thuyết kiếm hiệp. Tuy nhiên trước Kim Dung cũng có nhiều cái tên đáng chú ý. Một trong số đó là Vương Độ Lư (1909 - 1977). Ông là tác giả của một loạt bộ tiểu thuyết trứ danh như Bảo Kiếm Kim Thoa và đặc biệt nhất là Ngọa Hổ Tàng Long, bộ thiểu thuyết sau này đã được Lý An dựng thành bộ phim cùng tên, chinh phục khán giả từ Đông sang Tây và đoạt vô số giải Oscar danh giá. Điểm vượt trội của Vương Độ Lư là tình tiết câu truyện chặt chẽ, đặc biệt ông miêu tả tình cảm của nhân vật cực kỳ cảm động. Ví như mối tình giữa Lý Mộ Bạch với Dư Tú Liên. Dư Tú Liên yêu tha thiết Lý Mộ Bạch và họ Lý cũng hiểu mối thâm tình nàng dành cho mình nhưng họ Lý luôn cảm thấy day dứt vì mình đã không cứu được Tiểu Mạnh vốn là hôn phu của Dư Tú Liên. Ngoài trắc trở về tâm lý, truyện còn đề cập đến mối tình giữa nàng thiên kim tiểu thư Ngọc Kiều Long và tướng cướp La Tiểu Hổ thể hiện rõ sự giằng xé giữa địa vị và tình yêu. Mang những yếu tố tâm lý vào truyện và giải quyết tình huống truyện một cách thấu đáo, có thể nói Vương Độ Lư đã vượt lên trên khỏi cái bóng của Hoàn Châu Lâu Chủ. Người ta cũng nhắc đến Tư Mã Linh với “Kiếm Thần Truyện” nổi danh khắp Đài Loan khi ông mới chỉ bước vào tuổi đôi mươi. Nhưng sau đó trước tác của Tư Mã Linh ngày một kém cỏi nên sự nghiệp không có gì quá đặc biệt ngoài tác phẩm kể trên. Nói đến thời kỳ tiền Kim Dung, người ta không thể không nhắc đến cái tên Lương Vũ Sinh (1926 - 2009) với danh hiệu: “Tân kiếm hiệp tị tổ" (thủy tổ của tân kiếm hiệp). Ông một tác gia lớn của dòng văn học kiếm hiệp với khối lượng tác phẩm cực kỳ đồ sộ. Nhà nghiên cứu Trần Mặc trong tác phẩm Kiếm hiệp Ngũ đại gia đã bình luận: “Ông (Lương Vũ Sinh) chẳng những viết tiểu thuyết kiếm hiệp trước Kim Dung mà kết thúc cũng muộn hơn. Thời gian sáng tác của tiểu thuyết của ông gấp đôi Kim Dung, số lượng của ông thì hơn gấp đôi, gồm 35 bộ trường thiên tiểu thuyết. So ra Lương Vũ Sinh thuần tuý, chuyên nghiệp hơn (Kim Dung) nhiều”. Trong số những tác phẩm của ông, không thể không nói đến tác phẩm được liệt vào hàng kinh điển như “Bạch phát ma nữ truyện”, Thất kiếm hạ Thiên Sơn v.v… Sở dĩ nói Lương Vũ Sinh là một trong những cột mốc lớn trước Kim Dung là vì ông đã mang được cái thẩm mỹ thần tình của mình vào những trang viết, kết hợp mạnh mẽ lịch sử và trí tưởng tượng cực kỳ phong phú cùng với kiến văn quảng bác của mình để tạo nên những viên ngọc quý trong kho tàng tiểu thuyết kiếm hiệp. Đánh giá về Lương Vũ Sinh, Trần Mặc đã viết: “Tiểu thuyết của Lương Vũ Sinh đã kết hợp lịch sử với truyền kỳ , đem 2 thứ vốn thuộc 2 lĩnh vực khác nhau (giang hồ và giang sơn) kết hợp lại sáng tạo nên một thế giới kiếm hiệp mới mẻ. Người xưa cho rằng Tam Quốc diễn nghĩa là đệ nhất tài tử thư, tiểu thuyết của Lương Vũ Sinh cũng có thể coi là tài tử thư, còn như thứ mấy là chuyện khác. Có thể nói công lao mở đầu của ông ko thể coi thường”. Những tác phẩm của họ Lương bao giờ cũng thấm đẫm tinh thần hiệp nghĩa, nêu cao chính nghĩa như quan niệm của ông: “Thế nào gọi là hiệp? Quan điểm của tôi là : hiệp là hành vi chính nghĩa! Thế nào gọi là hành vi chính nghĩa? Tôi cho rằng: đem lại lợi ích cho nhiều người là hành vi chính nghĩa”. Tự đánh giá về những đóng góp của mình, Lương Vũ Sinh đã nói: “Khai phong khí giả Lương Vũ Sinh; phát dương quang đại giả Kim Dung” (người khai sinh mở mang là Lương Vũ Sinh; kẻ phát huy rực rỡ là Kim Dung, đây có thể được coi là một câu tổng kết chuẩn xác về tầm khai phá của ông trong lĩnh vực tiểu thuyết kiếm hiệp.
4.Kim Dung

Sở dĩ nói Kim Dung là một cột mốc lớn bậc nhất trong lịch sử tiểu thuyết kiếm hiệp bởi ông là người có công nâng tiểu thuyết kiếm hiệp từ bị thế từng bị coi là dòng văn học thông tục giờ đàng hoàng trở thành dòng văn học chính danh. Những tác phẩm của ông đã được đưa vào giảng dạy trong sách giáo khoa, ngang hàng với những tác phẩm văn học cổ điển của những tác gia lớn nhất Trung Quốc như Ba Kim, Lỗ Tấn, Lão Xá… Nhiều người đọc say mê nghiên cứu tác phẩm của ông, từ đó thêm hiểu biết về lịch sử Trung Quốc, về nghệ thuật ẩm thực, nghệ thuật thư pháp v.v… Thậm chí còn có cả một ngành chuyên nghiên cứu về những tác phẩm của ông được gọi là Kim học. Điều đáng nói là số lượng tác phẩm của Kim Dung không nhiều, 14 tác phẩm (kém xa so với Lương Vũ Sinh, Cổ Long, Ôn Thụy An) nhưng trong số những tác phẩm đó, tỷ lệ tuyệt phẩm là rất lớn. Có thể kể ra đây Xạ điêu Tam bộ khúc gồm bộ ba tác phẩm Anh Hùng Xạ Điêu, Thần Điêu Hiệp Lữ, Ỷ Thiên Đồ Long Ký hay Thiên Long Bát Bộ, Tiếu Ngạo Giang Hồ, Lộc Đỉnh Ký. Điểm khiến Kim Dung vượt trội so với những bậc tiền bối và cả những hậu nhân sau này là ông có sở học mạnh mẽ, kiến thức uyên thâm, lại thêm văn tài xuất chúng và trí tưởng tượng cực kỳ phong phú. Các tác phẩm của ông có nền tảng câu chuyện rất vững vàng, tình tiết câu truyện rành mạch, biết cách dồn nén để bung ra những nút thắt câu truyện vào phút tối hậu khiến người đọc tuyệt thú. Một điểm nữa cũng không thể không kể đến là Kim Dung tự biết lượng sức mình. Sau khi viết xong bộ truyện đồ sộ Lộc Đỉnh Ký, ông đã biết dừng lại và biên tập, chỉnh sửa những tác phẩm của mình. Sở dĩ nói đây là việc làm cực kỳ quan trọng bởi vì quá trình viết truyện kiếm hiệp của phần lớn tác gia kiếm hiệp thường bị đặt vào tình huống truyện dài kỳ với sự thúc ép của các tòa soạn báo và độc giả. Thành ra các tác giả phải liên tục ra đời những chương hồi mới, tình tiết mới và không khỏi bỏ quên nhiều nhân vật, sai sót trong nhiều tình huống khiến người đọc thắc mắc không thôi. Bản thân Kim Dung cũng mắc những lỗi tương tự nhưng ông tự biết ngồi lại và chỉnh sửa tình tiết văn từ khiến những tác phẩm của mình được nâng lên một bậc và sau này văn chương càng mỹ lệ, tình tiết càng lay động, bố cục càng chặt chẽ khiến ông trở thành một cây đại thụ, một Minh Chủ võ lâm của dòng văn học kiếm hiệp.

5.Hậu Kim Dung
Sau khi Kim Dung phong bút, dường như tiểu thuyết kiếm hiệp chịu nhiều tổn thất. Điểm lớn nhất là những tinh hoa của văn học kiếm hiệp cổ điển, dường như Kim Dung đã thâu tóm hết, hoàn thiện hóa và đưa vào những tác phẩm của mình. Những tác phẩm và uy danh của ông trở nên quá lớn khiến nhiều nhà văn không thể vượt qua cái bóng của bậc tiền bối. Tiểu thuyết kiếm hiệp đi vào lối mòn, cần tìm ra những lối đi mới. May mà có sự xuất hiện của Cổ Long (1937–1985).
Nhắc đến Cổ Long, người ta thường so sánh với Kim Dung. Kim Cổ đều là hai ngọn cô phong cao nhất của dòng văn học kiếm hiệp. Có điều so sánh giữa Cổ Long và Kim Dung là điều rất khó bởi Cổ Long đi theo một hướng đi rất khác. Bản thân Cổ Long đã nhận định về Kim Dung: “Ảnh hưởng của ông trên cả một thời đại của thiểu thuyết kiếm hiệp trong vòng tám mươi năm nay không ai có thể bì kịp. Bất kỳ tác phẩm của ai không ít thì nhiều cũng đều chịu ảnh hưởng của ông”. Tuy nhiên vì nhận thức được một cách sâu sắc rằng mình không có sở học nền tảng vững mạnh như Kim Dung, Cổ Long đặt yêu cầu cho mình phải viết khác biệt so với bậc tiền bối: “Phong cách tiểu thuyết của Kim Dung đã sáng tạo ra có thể hấp dẫn nhiều độc giả, tuy nhiên tiểu thuyết kiếm hiệp cũng đã đến giai đoạn cần phải canh tân, cần biết hóa”.
Chính quan điểm này đã tạo ra một hướng đi mới mẻ cho văn học kiếm hiệp với dấu mốc của Cổ Long. Phong cách câu chữ của Cổ Long ngắn gọn, ảnh hưởng mạnh mẽ từ văn học châu Âu, khác hẳn với kiểu văn bạch thoại được sử dụng nhiều trong những tác phẩm kiếm hiệp trước đó. Ngoài ra, những nhân vật kiếm hiệp của Cổ Long không gắn với những thời kỳ lịch sử nhất định nào, từ đó trí tưởng tượng được phát huy tối đa tạo ra những nhân vật truyền kỳ nổi tiếng khắp châu Á như Đạo Soái Sở Lưu Hương, Tiểu Lý Phi Đao, Lục Tiểu Phụng v.v… nhà nghiên cứu kiếm hiệp Trần Mặc đã có những nhận định sắc sảo: “Cần phải khẳng định rằng Cổ Long là một nhà cách tân tiểu thuyết kiếm hiệp. Ông là nhà nhà tiểu thuyết kiếm hiệp ưu tú nhất sau Kim Dung và Lương Vũ Sinh. Ông đã mở rộng tầm nhìn và không gian của tiểu thuyết kiếm hiệp, mở ra kỉ nguyên mới, con đường mới của tiểu thuyết kiếm hiệp. Văn phong của ông rất độc đáo, ảnh hưởng rất sâu rộng. Thành tựu sáng tác tiểu thuyết kiếm hiệp của Cổ Long đương nhiên không chỉ ở phương diện văn phong, văn thể mà là ở chỗ ông đã tiến hành một sự cách tân và cải tạo triệt để đối với tiểu thuyết kiếm hiệp truyền thống. Cống hiến của Cổ Long là đã mở ra con đường sáng tác kết hợp giữa Đông và Tây, tràn đầy tinh thần nhân văn hiện đại, biểu hiện ở sự tôn trọng con người, coi trọng nhân tính”.
Cùng thời kỳ này cũng có những danh gia kiếm hiệp khác như Lương Vũ Sinh, Ngọa Long Sinh, Ôn Thụy An được nhà nghiên cứu Trần Mặc xếp vào hàng ngũ Kiếm hiệp Ngũ Đại Gia cùng với Kim Dung và Cổ Long. Tuy nhiên xét về tầm ảnh hưởng, Kim Cổ vẫn có sức ảnh hút mẽ hơn cả.

6.Gạch nối Huỳnh Dị
Sau khi Kim Dung phong bút, Cổ Long qua đời, những cái tên như Ôn Thụy An được kỳ vọng sẽ mở ra những lối đi mới của tiểu thuyết kiếm hiệp nhưng rõ ràng kỳ vọng này là quá lớn, vượt khỏi tầm vóc của Ôn Thụy An mặc dù những trước tác của họ Ôn không phải không có chỗ độc đáo.
Cho đến khi Huỳnh Dị xuất hiện trên văn đàn, người đọc lại thêm một lần nữa ngây ngất trước những trước tác lớn có trí tưởng tượng kỳ vĩ và tình tiết lôi cuốn người đọc đến nghẹt thở. Khác biệt với những người đi trước, Huỳnh Dị kết hợp những câu truyện mang đầy tính khoa học viễn tưởng vào với những trang viết truyện kiếm hiệp của mình. "Tầm Tần Ký" và "Đại Đường Song Long truyện" và nhiều sáng tác sau này của ông đều mang dáng dấp của sự kết hợp nhuần nhuyễn đó. Cuộc hành trình của Hạng Thiếu Long qua cỗ máy thời gian ngược trở về thời kỳ Thất quốc tranh hùng (Tầm Tần Ký) qua đó họ Hạng tham gia vào hàng loạt những biến cố lịch sử quan trọng khiến người đọc vô cùng thích thú. Những tác phẩm đầy chất huyền ảo nhưng vẫn mang đậm chất kiếm hiệp đã tạo cho Huỳnh Dị danh hiệu là “cha đẻ của thể loại Huyền ảo kiếm hiệp”. Đồng thời, ông cũng xứng đáng là gạch nối tiêu biểu nhất của thể loại kiếm hiệp kết nối từ Kim Dung – Cổ Long đến những người viết kiếm hiệp trẻ sau này.

7.Tân Thần Châu Ngũ hiệp

Sau gạch nối Huỳnh Dị, văn đàn kiếm hiệp chứng kiến những thay đổi lớn lao. Đó là sự nổi lên của những tác giả trẻ tuổi nhưng bút lực tràn trề, sức tưởng tượng rộng lớn minh chứng bằng những tác phẩm có sức ảnh hưởng mạnh mẽ. Trong số đó, không thể không kể đến nhóm “Tân Thần Châu Ngũ hiệp” bao gồm Tiêu Đỉnh, Phượng Ca, Bộ Phi Yên, Tiểu Đoạn và Thương Nguyệt. Mỗi người một vẻ, một thế mạnh, một lối khai phá. Tiêu Đỉnh với tác phẩm Tru Tiên được coi là “Đệ nhất kỳ thư thời đại Internet” có phong cách viết và trí tưởng tượng thâm viễn, xứng đáng là người tiếp nối Hoàn Châu Lâu Chủ. Tuy nhiên tiếp sau Tru Tiên là gì? Người ta vẫn đang chờ đợi những trước tác mới của Tiêu Đỉnh. Ngoài ra ta còn thấy sự vươn lên của Phượng Ca với một phong phạm trầm ổn uyên bác ảnh hưởng mạnh mẽ của Kim Dung. Cũng không thể không kể đến văn phong và tình tiết sắc lạnh đầy vẻ huyền ảo của Bộ Phi Yên như một bước tiếp nối của kiểu hành văn Cổ Long. Nhiều người còn kỳ vọng vào một Tiểu Đoạn với những trang tuyệt bút thấm đẫm triết lý nhân sinh hay những tình cảm xót xa tinh tế trong văn của Thương Nguyệt. Đó đều là những người có khả năng khai phá những lối đi mới của dòng văn học kiếm hiệp.

Điểm kỳ lạ của văn học kiếm hiệp là tính tương hợp mạnh mẽ của dòng văn học này. Như nhận xét của Cổ Long: “Trong truyện tiểu thuyết trinh thám không có kiếm hiệp, nhưng tiểu thuyệt kiếm hiệp lại có trinh thám. Trong tiểu thuyết tình cảm không có kiếm hiệp nhưng tiểu thuyết kiếm hiệp lại có tình cảm. Đó là đặc tính dị biệt của tiểu thuyết kiếm hiệp”. Văn học kiếm hiệp đã trả qua nhiều thời kỳ, có những thăng trầm, có những bất ổn nhưng cứ mỗi khi tưởng như dòng văn học này suy thoái thì lại có những cái tên mới mang lại những hướng đi mới và những niềm hy vọng mới cho những độc giả mê truyện kiếm hiệp. Trong khi một số nhà phê bình vẫn chỉ coi văn học kiếm hiệp là dòng á văn học thì một số lượng lớn độc giả vẫn thích thú với dòng văn học này. Việc những trang viết của tác giả Kim Dung được đưa vào sách giáo khoa, kỷ lục phát hành của Tru Tiên tại Trung Quốc cũng như tầm ảnh hưởng của những tác giả kiếm hiệp đã lan rộng đến nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới chính là minh chứng sinh động nhất cho sức mạnh trường tồn của dòng văn học kiếm hiệp.


HOÀNG TÙNG

Điều còn lại của tình yêu !!



Hoàng hôn tím lịm.Trên ghế đá, trong công viên một đôi nam nữ đang yêu ngồi tâm sự. Chàng trai cao lớn vạm vỡ, điển trai như một chàng hoàng tử. Cô gái trông xinh đẹp, dịu dàng thánh thiện như một nàng công chúa. Nhìn chung họ thật đẹp đôi.
Chàng trai ôm chặt cô gái vào lòng, nói thì thầm những lời có cánh:
-Trên đời này anh chỉ yêu có mình em thôi. Em là tất cả cuộc đời anh.. Vì em, anh sẵn sàng hiến dâng tất cả…
Cô gái ngước mắt nhìn chàng trai xúc động:
-Anh có nói thật không?
Chàng trai càng ghì chặt cô gái vào lòng:
-Thật! Vì tình yêu đối với em, anh sẵn sàng làm bất cứ điều gì để bảo vệ em, bảo vệ nàng công chúa xinh đẹp của anh…
-Anh sẵn sàng hy sinh vì em chứ? – Cô gái thì thào.
-Sẵn sàng! Chàng trai ưỡn ngực đáp.
Vừa lúc đó một toán cướp ập tới. Trông chúng thật dữ dằn, tên nào cũng đầu tóc, râu ria bờm xờm, nhe răng trắng nhởn gầm gừ. Bọn chúng vây quanh đôi tình nhân. Một tên trong bọn rít lên qua kẽ răng:
-Biết điều thì ngồi im. Nếu kêu lên một tiếng thì đừng có trách…
Cô gái hoảng sợ, ôm ghì lấy chàng trai, nói run rẩy:
-Anh ơi…cứu em…
Nhưng lúc đó, chàng trai cũng run rẩy và hoảng sợ còn hơn cô gái, anh lấm lét nhìn toán cướp với cái nhìn kinh hoàng. Toàn thân anh ta run lên như cây gặp bão. Anh mếu máo van xin:
-Xin các ông tha cho chúng tôi.
Tên cướp nói:
-Muốn tha thì hãy nôn hết đồ ra!
-Vâng ạ! Chàng trai ngoan ngoãn nói.
-Tháo đồng hồ ra! Tên cướp ra lệnh.
Chàng trai ngập ngừng một tí rồi miễn cưỡng chấp hành. Anh tháo đồng hồ để trên ghế đá.
-Nhẫn vàng, ví tiền, điện thoại di động…Tên cướp tiếp tục ra lệnh. Chàng trai ngoan ngoãn làm theo. Chỉ trong giây lát những gì quý giá trong người, anh ta đều nộp theo yêu cầu của bọn cướp. Chợt một tên nói:
-Mà thôi! Chúng tao sẽ không lấy của mày những thứ này, chúng tao chỉ cần một thứ thôi…
-Thứ gì ạ, xin các ông cứ nói! Chàng trai lắp bắp.
Một tên hất mặt chỉ cô gái đang sợ hãi:
-Mày phải để con bé này lại cho chúng tao!
Nghe vậy, cô gái càng hoảng sợ hơn, cô khóc và ôm ghì lấy chàng trai:
-Anh ơi…!
Bất ngờ, chàng trai gỡ tay cô gái ra:
-Em ơi! Hãy hiểu và tha thứ cho anh. Dù sao anh cũng phải quý bản thân mình hơn tất cả, vì không có nó thì sẽ chẳng có gì, hãy hiểu và thông cảm cho anh…
Không kịp để cô gái phản ứng, chàng trai vội vùng đứng dậy vơ lấy các thứ rồi nói rối rít:
-Vâng! Tôi chấp nhận…xin các ông hãy tha cho tôi…
Nói xong, chàng trai co giò chạy biến…
Toán cướp vây quanh cô gái, nhìn cô trừng trừng…bất chợt cả bọn cười váng lên, cả cô gái cũng cười. Bọn chúng đồng loạt đưa tay, chỉ trong giây lát những bộ tóc giả, râu ria cũng giả nốt bị tháo gỡ. Hóa ra họ là những cô gái rất xinh đẹp hóa trang thành bọn cướp.
Cô gái tuy vẻ mặt thoáng buồn, nhưng cô vẫn mỉm cười:
-Cảm ơn các bạn đã giúp mình hiểu rõ về tình yêu của anh ta đối với mình!
Một cô gái nhìn quanh, trông thấy một chiếc giày của chàng trai bỏ lại. Cô cầm lấy giơ lên thích thú:
-Điều còn lại của tình yêu là thế này đây!
Cả bọn lại cười vang.

Bức thư tình


Hồi nhỏ, sau khi học về, lũ trẻ chúng tôi thường hay sang nhà chị chơi. Mỗi lần như vậy chị lại chia phần quà cho chúng tôi. Cũng chẳng có gì to tát, thường những món quà của chị chỉ là những quả chuối tiêu đã chín bầm, củ khoai lang luộc, vài hạt mít rang, nếu sang lắm cũng chỉ là mấy cái kẹo bột. Nhưng ở quê đối với lũ trẻ con chúng tôi đó là những món quà đắt giá. tôi thường được chị chiều chuộng hơn cả, có lẽ do tôi nhỏ con nhất bọn, nhưng cũng có lẽ tôi là một đứa trẻ ngoan, những lúc chị chia phần tôi không hau háu như những đứa khác, mà chỉ đứng chờ khi nào chị đưa cho thì mới nhận. Cũng có lẽ vì vậy mà phần của tôi thường nhiều hơn, to hơn những đứa khác. Trong khi chúng tôi đang thưởng thức món quà quê thì chị bắt đầu kể cho chúng tôi nghe những câu chuyện cổ tích. Chuyện của chị thường kể về chuyện tình giữa những chàng hoàng tử và nàng công chúa. chị không biết chữ, nhưng đến bây giờ tôi vẫn ngạc nhiên là tại sao hồi đó chị lại kể rất hay về những chuyện như Mỵ Châu – Trọng Thuỷ, Nàng Công chúa ngủ trong rừng, Nàng bạch Tuyết và Bảy chú lùn… Giọng kể của chị thánh thót, ngân nga và phảng phất trong đó có một nỗi buồn man mác. ấy là sau này lớn lên tôi cảm nhận vậy thôi, chứ hồi bấy giờ tôi chỉ biết hãnh diện khi được chị cho ngồi gần và há hốc miệng như nuốt lấy những câu chuyện diệu kỳ của chị. Hồi đó tôi mới lên bảy. Còn chị hơn tôi mười tuổi. Chị đã là một thiếu nữ.
Người trong làng kể lại, khi chị mới ra đời cha mẹ đã định bỏ chị tại nhà hộ sinh để trốn về. Chẳng qua họ quá hoảng sợ vì đã sinh ra một đứa trẻ dị dạng. Có lẽ chỉ trừ khuôn mặt, phần ngực và đôi tay là giống với muôn vàn đứa trẻ bình thường khác, nhưng đứa bé lại có một chiếc lưng gù, đôi chân queo quắt và những khối u trên thân thể. Bác sỹ kết luận do ông bố nhiễm chất độc màu da cam ở chiến trường nên đã sinh ra đứa trẻ tật nguyền. Hai vợ chồng khóc và sực nhớ trước đó người vợ đã mấy lần sẩy thai. thế là mọi mơ ước có những đứa con xinh đẹp đã tàn lụi. Trong đêm mưa, người chồng dìu vợ chạy trốn, bỏ lại đứa bé đang ngọ nguậy co quắp trên giường. Nhưng họ không thể đi nổi, bởi tiếng khóc ngằn ngặt xót xa như van xin, như khẩn cầu nghe đến não lòng, dù đã bỏ trốn một quãng xa, nhưng tiếng khóc vẫn đeo đẳng; khiến họ không đủ can đảm để dứt bỏ một hình hài, dù dị dạng nhưng cũng là thịt, là xương của họ. Thế là đứa bé được đưa về, được bú mớm và lớn lên trong tình thương của cha, lời ru của mẹ. Đứa bé gái ấy chính là chị.
Trong ký ức của tôi, chị là một người con gái đẹp tuyệt vời. Chị có đôi mắt to sáng, cái nhìn thăm thẳm dưới làn mi cong, mũi thẳng, và đôi môi nhỏ chúm chím lúc nào cũng chín mọng, mái tóc của chị đen, càng làm cho khuôn mặt trái xoan có một cái gì đó thật thánh thiện, tinh khiết như cỏ cây hoa lá. tôi đã từng nghe mọi người nói với nhau nếu không bị tật nguyền chắc chị sẽ trở thành hoa hậu, còn đám trai làng thì thào tiếc thay cho chị và cả cho họ rằng nếu cái Diệu (tên chị ) không bị làm sao thì họ sẵn sàng đến trồng cây si trước cửa. Có lẽ từ khi tôi biết nghĩ cho tới khi chị mất, chưa bao giờ tôi thấy chị cáu bẳn hờn trách ai điều gì. khoé môi chị luôn ẩn chứa một nụ cười khi chị nói chuyện với ai, dù đó là một chàng trai, trẻ nhỏ hay một cụ già. Nhà chị ở sát đường làng, nên cứ mỗi chiều, chị lại cố lê mình trên hai chiếc ghế gỗ thay cho đôi chân ra ngõ. Gặp ai chị cũng trò chuyện với họ đôi ba câu. thật kỳ lạ; bất kỳ ai sau khi trò chuyện với chị cũng tỏ ra vui vẻ, mọi ưu phiền, bức bối trong cuộc sống thường nhật cảm giác như tan biến, nhường chỗ cho một sự thư thái, thanh thản đến ngạc nhiên. Khi tôi tỏ ý thắc mắc về điều kỳ lạ này, chị luồn hai bàn tay với những ngón tay thon mềm như búp măng vào mớ tóc cháy khét vì nắng của tôi và dịu dàng nói: “ Chị muốn mang đến niềm vui cho mọi người, em ạ! ”. Những lúc như vậy tôi lại thấy trong đôi mắt thăm thẳm của chị long lanh hai giọt nước. Tôi hỏi tại sao chị lại hay kể về mối tình giữa những chàng hoàng tử và nàng công chúa. Chị cười buồn “ Thường khi người ta không có được điều gì thì lại hay mơ ước về điều đó ”. Có lần tôi sang thấy chị đang ngồi ngơ ngẩn một mình, trong tay là một tờ báo. tôi hỏi sao chị ngồi buồn vậy, chị lắc đầu không nói, nhưng tôi thấy tờ báo có in hình một đôi nam nữ đang hôn nhau. mãi sau này lớn lên, tôi mới hiểu nỗi ngẩn ngơ của chị.
năm tôi học lớp 12, mặc dù bận rộn cho việc sách đèn thi cử, nhưng khi rảnh rỗi tôi lại sang nhà chị chơi. Bấy giờ chị đã hai mươi bảy tuổi. Cái tuổi ở quê người ta thường đã có một mái ấm yên vui, đầy tiếng cười con trẻ. Những người cùng lứa đã trở thành đàn bà từ lâu. Nhưng chị vẫn cô quạnh một mình. Chị vẫn là thiếu nữ. Điều dễ hiểu đó tôi không giải thích nữa, nhưng tôi thấy thương chị. Không phải tôi thương tấm thân tàn tật. Dẫu thế nào thì di chứng của chiến tranh cũng đã cướp mất thân thể chị rồi. Không phải tôi thương vì chị đã lỡ thì. Dẫu muốn, tôi vẫn hiểu rằng không bao giờ chị có được điều đó. Điều tôi thương, cũng đơn giản thôi ấy là khi tôi phát hiện ẩn trong tấm thân tàn tật của chị là một tâm hồn đa cảm. Chị có một trái tim đàn bà – Một trái tim yêu ! Có nên kể ra đây không nhỉ ?
Tôi phát hiện ra điều ẩn náu trong tâm hồn chị chỉ là một sự tình cờ. Hôm đó, sau buổi ôn bài tôi lại sang nhà chị chơi. Vào mùa nên làng xóm vắng tanh, mọi người đều đổ ra đồng làm việc. con chó vàng do quen tôi nên chỉ ngoe ngẩy đuôi rồi lại chúi mũi xuống thềm nhà ngủ tiếp. Nhà chị vắng lặng, chắc bố mẹ chị cũng đã ra đồng. Tôi nghĩ vậy và thản nhiên đi vào nhà như mọi bận. Nhưng tôi chợt đứng sững lại và đi dật lùi trở ra. Tôi không dám gây ra một tiếng động dù nhỏ, vì sợ tiếng động sẽ làm cho chị phát hiện ra tôi. Điều gì sẽ xẩy ra khi chị trông thấy tôi vào lúc bấy giờ? Quả thực tôi không biết phải xử trí thế nào nữa khi trông thấy chị đang ngồi một mình. Đúng hơn là chị đang tự chiêm ngưỡng, đang ngắm nửa phần trên lành lặn của mình. Chiếc áo sơ mi được mở nút để lộ bờ vai với làn da mịn trắng ngần và bộ ngực tròn đầy phập phồng theo nhịp thở. Chị say sưa ngắm bờ vai, bàn tay với những ngón búp măng của chị khẽ lướt mơn man rồi dừng lại giây lâu trên bộ ngực. Cặp vú tròn căng, với đôi núm như nụ hoa đào, trinh nguyên chỉ có được của thời con gái. Tôi có cảm giác ngột thở của một đứa con trai mới lớn khi buộc phải nhìn thấy những gì mà tạo hoá chỉ ban cho những người khác giới. Phải thừa nhận rằng lúc đó trông chị đẹp như một nàng công chúa trong những câu chuyện cổ tích mà chị từng kể cho chúng tôi nghe. Nhưng liền đó tôi chợt rùng mình khi thấy đôi vai chị rung lên, những giọt nước mắt ứa ra từ đôi mắt đẹp thăm thẳm buồn rồi rơi xuống bộ ngực, những giọt nước mắt tiếp tục lăn dài và nhỏ xuống đôi chân co quắp…
Tôi len lén trở ra và đánh tiếng từ ngoài ngõ. Khi tôi vào nhà đã thấy chị ngồi yên như chưa có điều gì xẩy ra. Chiếc áo đã được cài nút và không còn những giọt nước mắt. Chị cười “ Em vào đây ! ”. Tôi ngồi xuống cạnh chị. “ Em chừng nào thi đại học ? ”. “ Vài tháng nữa chị ạ ”. “ Thích nhỉ, giá như chị cũng được đi học và đi thi như em ”. Tôi không trả lời vì dù tôi nói thích hay không thích cũng đều xúc phạm đến chị. Lát sau chị mỉm cười hỏi tôi: “ Sơn đã có bạn gái chưa ? ”. Tôi lắc đầu “ Chưa ! Mà em cũng không thích yêu đương lằng nhằng ”. chị cười “Sao lại nói tình yêu là lằng nhằng. Đó là do em còn ít tuổi lại còn bận học thôi, chứ lớn lên ít nữa em cũng sẽ thích yêu và được yêu thôi ”. Nói tới đây, tôi thấy đôi mắt chị trở nên mơ màng xa xôi diệu vợi, chị khoe: “ Tối qua có một chàng trai đến làm quen rồi ngỏ lời yêu chị. Bọn chị nói chuyện với nhau nhiều lắm. Anh ấy đã hôn chị, và… khi thức giấc chị bỗng nhận ra rằng đó chỉ là một giấc mơ ”. Nói tới đây chị thở dài nét mặt đượm buồn, tôi nhìn chị với ánh mắt sẻ chia. Nhưng chỉ một lát sau chị đã lại cười ngay “ Dù sao thì đó cũng là những phút giây chị hạnh phúc nhất em ạ. Đối với chị chừng đó cũng đủ rồi, chị không dám đòi hỏi gì hơn nữa!”. “ Nhưng nếu có một người bằng xương bằng thịt yêu chị, thì chị có yêu anh ta không ? ” Nét mặt chị bỗng trở nên rạng rỡ: “Sao lại không. Nếu anh ấy yêu chị thực lòng, thì chị sẵn sàng chết để bảo vệ tình yêu đó ”.
Sau hôm đó, mỗi lần sang chơi, tôi thấy chị không còn vui vẻ như trước. Chị vẫn trò chuyện dịu dàng với tôi, nhưng vẻ mặt luôn man mác buồn, đôi mắt ngân ngấn nước. Tôi gặng hỏi mãi, chị mới cười ngượng và nói: “ Chị nhớ anh ấy ! ”, “Anh nào? ”. “ Chàng hoàng tử trong mơ của chị ”. Vậy ra chị đã tương tư với người trong mộng. sau này khi biết yêu, tôi mới hiểu rằng không phải chị tương tư, mà thực ra tâm hồn và trái tim con gái đã hối thúc chị phải yêu như quy luật sinh tồn muôn thuở. Chị muốn yêu. muốn được yêu. Chị muốn làm đàn bà !
Một hôm tôi hỏi chị “ Chị muốn có bạn trai không ? ”. Chị nhìn tôi ngạc nhiên “ Sao em lại hỏi vậy ? ”. Tôi đưa ra một tờ báo chỉ cho chị xem mục kết bạn và giải thích cho chị muốn tìm bạn khác giới để tâm tình, trò chuyện thì phải bắt đầu từ đâu. Chị nghe một cách thích thú, đôi mắt rực sáng. Nhưng sau đó khuôn mặt chị thoắt buồn “ Chị tàn tật thế này người ta có kết bạn không?”. “Sao lại không. Chị cứ thử xem ! ”. “ Nhưng chị không biết chữ ”. “Em sẽ giúp. ” chị gật đầu đồng ý. Sau đó chị đọc cho tôi chép lá thư kết bạn của chị. Đại loại là họ tên, địa chỉ, tuổi đời, sở thích. Sau cùng là mong được kết bạn với một người khác giới đồng cảm.
Chừng nửa tháng sau, khi tôi đang ôn bài thì mẹ chị tới bảo chị nhắn tôi sang gấp. Tôi bắt gặp chị trong một trạng thái hưng phấn tột độ, gò má chị đỏ hồng, ánh mắt long lanh và nụ cười rạng rỡ. Chị khoe “ Anh Tình gửi thư cho chị!”. Đoạn chị đưa cho tôi xem lá thư của người bạn trai mới quen “ Em đọc cho chị nghe anh ấy viết gì trong đó ”. Bức thư thật nồng nàn tình cảm, người đó nói với chị rằng anh cùng chung ước muốn, sở thích như chị, cũng mong muốn được làm bạn tâm tình cùng chị… Tôi đọc và chị nghe chăm chú. Khi tới đoạn người đó muốn được làm bạn tâm tình, chị yêu cầu tôi đọc đi đọc lại mấy lần. Gò má chị lại ửng hồng, đôi mắt rực sáng. Khi tôi đọc thư xong, chị đón lại bức thư nâng niu trân trọng. Chị bảo “ Bây giờ mình phải làm thế nào hở em ? ”. “ Phải hồi âm kẻo người ta mong chị ạ!”. “ Em viết giúp chị nhé ! ” và chị đọc cho tôi viết. Lời lẽ bức thư của chị nghe thật thà đến mức tội nghiệp. Chị nói rằng vì bị ảnh hưởng chất độc màu da cam nên chị bị tật nguyền, chị không đẹp như người bạn trai trong thư nhầm tưởng. Chị băn khoăn bạn sẽ cư xử thế nào khi rõ hoàn cảnh của mình… Thư viết xong, chị bảo tôi đem ra bưu điện huyện gửi ngay cho chị.
Thư đi rồi thư lại đến. Người bạn trai tên là Tình nói với chị rằng anh không thích cái tính tự ti của chị, rằng anh muốn chị hãy can đảm, tự tin hơn trong cuộc sống. Anh cũng căm ghét chiến tranh, căm ghét những kẻ đã gieo rắc bao nỗi khổ đau lên những người dân vô tội, và điều cuối cùng gây ấn tượng nhất với chị đó là anh nói rằng dù chị có tật nguyền thế nào chăng nữa thì anh vẫn luôn là người bạn chân thành, sẵn sàng sẻ chia vui buồn cùng chị. Cứ vậy chị và Tình trò chuyện với nhau. Qua những bức thư tôi thấy họ ngày càng thân thiết. Thậm chí họ đã bắt đầu tâm sự với nhau những điều sâu kín nhất. Hai người đều thể hiện sự nhớ nhung mong đợi và niềm khát khao cháy bỏng muốn được gặp nhau. Còn tôi như một thư ký cần mẫn, sẵn sàng chép và đọc thư bất kỳ khi nào chị muốn. Tôi không buồn chán vai trò thư ký của mình, ngược lại tôi lại rất mừng khi thấy chị ngày càng vui vẻ yêu đời, nhiều khi tôi bắt gặp chị đang chải tóc soi gương và miệng lẩm nhẩm hát những bản tình ca. Một hôm chị nói với tôi: Giá như chị được gặp anh Tình, em nhỉ ! ”. “ Nhưng anh ấy ở xa làm sao chị gặp được”. Chị thở dài “ Chị cũng biết vậy. Sẽ chẳng bao giờ chị gặp được anh ấy”. Tôi thấy khoé mắt chị rơm rớm, nhưng lát sau chị lại cười ngay “ Theo em thì anh ấy có đẹp trai không ? ” tôi gật đầu. Chị vui vẻ nói “ Chị cũng nghĩ vậy, một người tốt bụng như anh ấy tất phải rất đẹp trai, khỏe mạnh và thông minh như chàng hoàng tử chị đã gặp trong mơ vậy ”.
Một thời gian sau chị ốm. Chất độc màu da cam ngày càng ngấm sâu và dày vò thân thể chị. Những cơn đau quằn quại của thể xác khiến chị trở nên xác xơ. Da dẻ chị xạm lại, hai bàn tay với những ngón búp măng trở nên run rẩy. Đôi vai chị xo lại như muốn dấu đi bộ ngực ngày càng teo tóp. Nhưng dù bị bệnh tật hành hạ, tôi vẫn thấy chị vui vẻ yêu đời. Đôi mắt chị luôn rực sáng mỗi khi chị đọc cho tôi viết thư và những lần nhận được thư của Tình. Ở đầu giường bệnh của chị những lá thư ngày càng nhiều, lời lẽ ngày càng đằm thắm hơn. tình đã ngỏ lời yêu chị và mong muốn chị vượt qua cơn hiểm nghèo để hai người trở nên đôi lứa. mỗi khi bị cơn đau hành hạ, chị lại cầm lấy bức thư trong bàn tay run rẩy, như thể bức thư đó là phương thuốc truyền cho chị thêm sức mạnh. Chị nói với tôi “ Tình động viên chị vậy thôi, chị không thể sống lâu được nữa. Nhưng chị vẫn cảm ơn anh ấy đã cho chị biết thế nào là tình yêu ! ”.
Tôi thi đỗ đại học. Hôm chia tay, thấy tôi bịn rịn, chị bảo: “ Em có nhớ trong một bức thư, anh Tình có nói với chị điều gì không ? ” Tôi lắc đầu, chị bảo “ anh ấy nói với chị rằng hãy can đảm, tự tin hơn trong cuộc sống. Chị cũng muốn em như thế. ”. Nói rồi chị cười, nhưng tôi thấy mắt chị lại rưng rưng.
Cuộc sống sinh viên với những lịch học dày đặc, khiến tôi không còn nhớ gì ngoài việc vùi đầu vào sách vở. Thỉnh thoảng hình ảnh gia đình, làng xóm, trong đó có cả chị lướt qua trong đầu tôi, nhưng rồi những chương trình học kế tiếp nhau cuốn tôi vào dòng thác bất tận của tri thức.
Kỳ nghỉ hè đầu tiên, tôi về nhà trong lòng tràn ngập niềm vui. Đương nhiên chị là người tôi mong được gặp sớm nhất. Nhưng tôi hết sức choáng váng khi nghe mẹ tôi kể rằng sau khi tôi đi học chừng một tháng thì chị mất. Trước khi tắt thở, chị yêu cầu gia đình hãy đem những bức thư của Tình chôn theo cùng chị và chị cũng nói với mọi người rằng chỉ có tôi mới biết được địa chỉ của Tình.

N.N.Đ

Chú bé đánh giày



Phải cố gắng lắm thằng bé mới xách nổi cái hòm gỗ đựng bộ đồ đánh giày của nó. Len lỏi qua những chiếc bàn, nó hy vọng sẽ có một ông khách nào đó cần đánh bóng đôi giày để kiếm ít tiền. Hôm nay là chủ nhật, nên tiệm giải khát chật kín người. Họ đến đây để giải khát thì ít mà cốt để chưng diện sự giàu sang thì nhiều.

Từng đôi, từng đôi một, họ ngồi sát bên nhau, tay lơ đãng khuấy cốc, miệng thì thầm trò chuyện, thỉnh thoảng họ lại liếc mắt sang các bàn khác, dường như để xem có ai chú ý đến mình không. Đàn bà thì tươi tốt trong bộ xiêm y lộng lẫy, vàng đeo kín cổ và hai bàn tay. Đàn ông chững chạc trong bộ complé, tay đeo đồng hồ đắt tiền và những chiếc nhẫn vàng to sụ. Từng lúc lại có đôi đứng dậy xỉa những tờ giấy bạc xanh đỏ cố cho chúng rơi lả tả xuống mặt bàn.

Người phục vụ đón lấy một cách thành thạo, kèm theo là một nụ cười phỉnh nịnh và câu nói đã thuộc lòng: “ Nhà hàng chúng tôi rất vinh dự được gặp lại quý ông, quý bà ”. Tất cả sự phô bày cái giàu sang kệch cỡm kia đối với đứa bé đều vô nghĩa. Nó chỉ cần một ông khách nào đó chìa đôi giày ra để nó đánh bóng mà thôi. Hôm nay quả là một ngày hẩm hiu với nó. Đã xế chiều rồi mà nó chưa hề kiếm được đồng bạc lẻ nào. Chiếc bánh mì lót dạ từ trưa không còn mảy may tác dụng với nó nữa. Nhưng hình như nó không bận tâm gì lắm đến điều đó. Bởi nó chỉ nghĩ tới mẹ.

Hiện giờ mẹ nó đang nằm ở nhà. Sự cố gắng đến tuyệt vọng trong việc kiếm miếng cơm manh áo để nuôi nó đã quật đổ sức vóc vốn dĩ không có gì là khoẻ mạnh của người mẹ. Những cơn đau thắt ngực và trận ho kéo dài đã khiến cơ thể mẹ nó gầy rộc. Nhưng mẹ giấu không cho nó biết bệnh tình, bà vẫn gắng sức làm việc. Cho đến một hôm nó đi học về không thấy mẹ ra đón với nụ cười trên môi nhợt nhạt nhưng cố làm ra vẻ tươi tỉnh như mọi bận. Vào nhà nó thấy mẹ nằm trên giường, người rũ như một tàu lá héo. Đó cũng là ngày cuối cùng nó được cắp sách tới trường.

Nó không biết mặt bố. Khi vừa tròn 5 tuổi thì bố mẹ nó bỏ nhau. Trong ký ức trẻ thơ của nó loáng thoáng hình bóng của một người đàn ông khoẻ mạnh, dữ dằn hay uống rượu và đánh vợ. Hình như có một lần nào đó, nó nghịch lỡ tay làm vỡ chai rượu của bố, bị ông ta đánh một trận rất đau bằng thanh gỗ cài cửa. Mẹ nó chỉ biết đứng khóc mà không dám can ngăn. Sau khi bố mẹ nó li dị, ông ta bỏ đi đâu không ai rõ. Dần dần, hai mẹ con thôi không còn hoảng sợ nữa khi biết rằng ông ta sẽ không bao giờ trở lại.

Bây giờ nó đã là một đứa bé 13 tuổi. Tuy hơi gầy so với chúng bạn cùng lứa, nhưng bù lại nó lại tỏ ra là một đứa bé hoạt bát, thông minh. Có lẽ đó là kết quả xuất phát từ tình yêu thương của người mẹ đã dành trọn cho nó. Hôm nó cầm về những đồng bạc đầu tiên của một ngày lang thang kiếm sống. Mẹ cứ ôm nó khóc mãi. Nhưng biết làm sao được, không có tiền để thuốc thang chạy chữa cho mẹ, bản năng đòi hỏi quyền được sống tiếp tục xô đẩy nó ra khỏi nhà với chiếc hòm gỗ trên tay.

Người ta bảo nó có cái bớt màu sẫm đen trên má phải là dấu hiệu của sự rủi ro. Song, nó không tin thế. Ngày nào kiếm được nhiều tiền, nó nghĩ có lẽ là nhờ cái bớt. Thế mà hôm nay, cái bớt không giúp đỡ được gì cho nó. Tối nay mẹ con nó sẽ có cái gì tạm sống qua bữa đây ? Rồi ngày mai, ngày kia…

Thất vọng trước đám thực khách giàu sang nhưng bủn xỉn không muốn bỏ ra vài nghìn để làm đỏm cho đôi chân của mình. Nó miễn cưỡng định bước ra khỏi tiệm. Chợt có tiếng gọi kẻ cả:

- Ê ! Thằng bé đánh giày…

- Dạ ! Con đây ạ ! Nó mừng rơn, miệng vâng dạ rối rít và chạy đến ông khách vừa gọi.

Đó là một người đàn ông to béo, ăn vận chải chuốt, đang ngồi ngã người ghếch đôi chân lên chờ đợi. Bên cạnh ông ta, một người đàn bà cũng to béo, mặc chiếc áo thun trễ cổ và chiếc váy ngắn như muốn phô bày những khối thịt mịn màng của mình ra trước ánh sáng. Tới sát vị khách, thằng bé hạ hòm gỗ xuống chuẩn bị hành nghề.

Chợt người đàn ông nâng cằm nó lên nhìn chòng chọc vào chiếc bớt trên má nó. Một lát sau ông ta hỏi nó giọng khê nồng:

- Mày có phải là thằng Tần không ?

- Dạ ! Phải ạ ! Nó trả lời và ngạc nhiên khi thấy ông khách lạ mặt này biết tên nó.

- Mẹ mày tên là Đoài phải không ?

- Dạ, phải ạ ! Nỗi ngạc nhiên khiến thằng bé tròn xoe mắt. Người đàn ông buông mặt nó quay sang nói với người đàn bà:

- Nó là con anh…A

- Tôi biết rồi ! Người đàn bà thản nhiên trả lời.

- Sao biết ?

- Nó giống anh như đúc.

Thằng bé suýt reo lên định chạy tới ôm chầm lấy bố theo bản năng của một đứa con. Nhưng nó chợt sững lại. Nó sợ…

- Mày bỏ học rồi à ?

- Dạ…

- Sao bỏ ?

- Nhà không có gì ăn nên… cháu… con … phải bỏ… Nó bối rối khi buộc phải xưng con với người đàn ông.

- Thế mẹ mày đâu ? Bố nó hỏi với một giọng vô cảm.

- Mẹ bị ốm… Nó lí nhí trả lời.

- Cho mẹ mày chết. Cứ làm phách cho lắm vào. Bố nó buông một câu khiến nó ớn lạnh. Mẹ nó mà chết được ư ? Không ! Không thể ! Nó có cảm giác mình đang gào lên thật to để phản đối điều đó. Nhưng thực ra nó vẫn đứng câm lặng, nước mắt ứa ra. Tự dưng nó cảm thấy căm ghét người đàn ông tàn bạo này. Tuy không diễn đạt được thành lời, nhưng nó hiểu rằng chính người đàn ông này là nguyên nhân khiến mẹ con nó phải khốn khổ.

- Anh Thiết này ! Hay là ta đưa nó về để bế em ? Người đàn bà chợt đổi giọng nói õng ẹo với bố nó.

- Để cô ăn thịt nó đi à ? Bố nó lừ mắt nói với người đàn bà.

- Anh cứ làm như là…

- Chứ lại không à ? Tôi thì lạ gì cái tính yêu tinh của cô nữa.

- Thì thôi vậy. Gớm, tưởng báu lắm đấy. Người đàn bà cong cái môi tô son đỏ chót lên để lộ chiếc răng nanh bên khoé mép.

- Cô câm cái mồm đi, không báu cũng là con tôi. Bố nó quát người đàn bà, rồi quay lại lừ mắt hỏi nó:

- Mày có về ở với tao không ?

- Không ! Thằng bé trả lời buông thõng, khiến người đàn bà cũng ngẩn mặt ra nhìn.

- Đồ mất dạy. Trả lời như thế à ? Bố nó quát lên trong cuống học, tưởng chừng ông ta sẽ vồ lấy nó mà xé xác ra. Nhưng không. Thay vì điều đó, bàn tay hộ pháp của ông ta xoè ra trước mặt nó một xấp giấy bạc:

- Cho mày đấy…

Nó trân trân nhìn những tờ giấy bạc màu tím. Chưa bao giờ mẹ con nó được cầm loại giấy bạc như thế. Nhưng…

- Cầm lấy ! Bố nó cáu kỉnh nhắc lại.

- Dì cho con đấy. Con cầm đi ! Người đàn bà thẽ thọt nhắc. Đứa bé ngẩng phắt đầu lên. Sự ngộ nhận của người đàn bà khiến nó như một chú báo con trước bầy sư tử. Hình ảnh mẹ nó vàng võ héo hon hiện rõ nét trong nó hơn bao giờ hết. Tại sao người đàn bà này lại dám nói câu mà lẽ ra chỉ mẹ nó mới có quyền được nói?

- Tôi không cần ! Nó nói giọng kiên quyết pha lẫn căm thù. Bố nó giật phắt tay lại như chạm phải luồng điện.

- Mày dám nói với chúng tao như thế hả ? Đúng là mẹ nào con nấy ! Ông ta nổi xung lên, chiếc cằm bạnh ra giật giật.

Thằng bé không trả lời. Nó cúi xuống xách thùng đồ nghề đứng lên rồi bỏ đi. Chợt từ góc phòng bên kia có tiếng gọi:

- Này ! Bé ơi, lại giúp bác tí nào !

- Dạ ! Con tới ngay đây ạ ! Thằng bé nhanh nhẩu đáp, rồi chạy tới. Nó cảm thấy trong lòng nhẹ lâng…

N.N.Đ