'cookieChoices = {};'

Saturday, May 9, 2015

Dòng kênh đen


Gió từ cầu Calmette thổi đìu hiu, cuốn theo một lớp mùi hăng hắc. Dòng kênh đen đặc nay thôi không hục hặc ho từng cơn. Thi thoảng con nước trở mình khe khẽ giống như có một đàn cá lớn, nghịch ngợm quẫy đuôi. Hai bên bờ kênh, những dãy nhà tạm của công nhân lụp đụp đội lên. Như thường lệ, chiếc ghe gỗ mục nát từ từ cập vào bờ. Một cô gái chừng 20 tuổi dừng mái chèo. Mái tóc cô bay ngược gió, xõa ra ôm lấy gương mặt tròn vành vạnh. Bộ quần áo mốc meo, lem ngoem bùn lầy không che lấp vẻ đẹp trong sáng của cô. Từng đường nét hài hòa trên gương mặt cô gái tỏa xuống dòng kênh đen một luồng sáng loang loáng. Chiều nào tôi cũng ngồi trên những kè đá trắng nhấp nhô. Đơn giản chỉ một lí do: Tôi muốn nhìn thấy cô gái nhỏ.
Trong căn chòi lá liêu xiêu, bé gái thò đầu ra ngoài, cười nắc nẻ. Nhác thấy chị, bé reo lên: “A! Chị hai về rồi”. Người mẹ cụt một chân, nhảy cò cò ra mạn bờ. Nước da bà xám nghoét, hai má chảy xệ, nhão nhoẹt như lớp bùn đáy kênh. Mặt bà lúc nào cũng nhàu nhĩ, hai con mắt sụp xuống như chỉ chực khóc. Người cha ì ạch kéo lên bờ một bao sắt lụn vụn. Cả nhà cô gái xúm xít bên bao sắt vụn như những người thợ săn vây quanh con thú vừa săn được.
Trưa nay đang vác đá trên bờ kè, tôi bối rối khi nhìn thấy chiếc ghe của cô gái nhỏ chầm chậm lướt qua. Gió phần phật, bật ngược chiếc nón lá ra sau, gương mặt cô gái xuất hiện ở khoảng cách thật gần. Cánh thanh niên nhìn ngơ ngẩn. Họ huýt sáo, gọi nhau ơi ới. Là người phát hiện ra vẻ đẹp mộc mạc của cô gái từ lâu nhưng lần này, tôi không khỏi ngỡ ngàng như kẻ phàm phu nhác thấy bóng thiên thần. Hôm nay, cô gái đi một mình. Chiếc ghe mắc kẹt giữa hai nhánh cây khô. Nước cạn. Đáy kênh lồ lộ ra. Một nửa người cô gái ngập sâu dưới lớp bùn đen nhão nhoét. Thao tác giống người cha, cô sục sạo tay chân trong lớp bùn tanh tao. Xung quanh cô, rác rưới lềnh làng mặt nước. Những đợt gió mạnh, múc mùi hôi hám dưới lòng kênh vãi tung tóe khắp nơi. Trông thấy cảnh ấy, cánh phụ hồ im bặt. Họ ngó lơ chỗ khác. Cô gái không mảy may để ý đến xung quanh. Cô vẫn cặm cụi mò sắt. Chốc chốc, cô gái xuýt xoa, rút ngón tay lên nhăn nhó. Tôi biết tay cô quệt trúng mảnh chai. Lòng tôi se sắt lại, nóng bừng như ăn cả bao ớt. Quá nửa trưa, nắng xuống đốt nóng cả dòng kênh. Nước lên. Cô gái nhanh tay chèo. Ra giữa dòng, chiếc ghe chao đảo. Buông mái chèo, cô ôm bụng, mặt nhợt nhạt. Trống ngực tôi đập liên hồi. Tôi buột miệng gọi to. “Em sao vậy?”. Đáp lại lời tôi, cô gái cố xua tay, lắc đầu ra hiệu không sao. Chiếc ghe tròng trành, lắc lư như gặp vũng nước xoáy. Cô gái nhỏ hết ngả bên trái lại nghiêng bên phải. Tôi không rời mắt khỏi chiếc ghe cho đến khi cô vào được bờ. Suốt buổi chiều, tôi ra bờ kè chờ đợi nhưng không thấy cô.




- Con sao vậy?
Người mẹ hoảng hốt khi thấy đằng sau quần cô, máu đỏ ướt từng mảng. Cố mở một nụ cười gượng gạo, cô lúng túng.
- Con đến tháng mà quên mang…
- Sao tháng này mẹ thấy con bị liền liền vậy. Hai tuần rồi giặt quần cho con mẹ đều thấy có máu. Con nói thật cho mẹ biết đi. Con bị sao vậy?
- Chắc con bị rong kinh, ít bữa là hết. Không sao đâu mẹ.
Cô giấu mẹ những cơn đau quằn quại. Nhưng bằng linh cảm của một người mẹ, bà nhận ra có điều gì đó không bình thường đang xảy ra với con gái. “Hôm nay mẹ dẫn con đi khám bệnh. Con cứ ra máu như vậy, mẹ lo lắm”. Mặt bà trĩu buồn. Ánh mắt bà nôn nao nhìn con. Cô miễn cưỡng theo mẹ đến bệnh viện. Căn phòng trắng toát, lạnh lẽo như những phiến đá vôi khiến cô rùng mình. Qua vài lần siêu âm, xét nghiệm, bác sỹ gọi cô vào phòng riêng. Ông nhìn cô thật lâu, giọng ngập ngừng: “Chú không muốn giấu con. Những lời chú sắp nói ra sẽ khiến con khóc nhưng là bác sỹ chú không thể giấu bệnh nhân tình trạng bệnh. Con phải hết sức bình tĩnh… Con bị bệnh ung thư cổ tử cung giai đoạn cuối…”. Giọng bác sỹ lướt qua vành tai cô lúc nặng, lúc nhẹ. Và cuối cùng hai tai cô ù đặc, lùng bùng như có kiến chui vào. Cô không còn nghe thấy gì nữa. Tại sao chính cô lại mắc phải căn bệnh quái ác này? Có phải đó là kết quả của bao năm cô ngập ngụa dưới những dòng kênh đen, nồng nặc rác thải và mùi hôi. Cô thất thểu lê từng bước ra ngoài hành lang. Từ xa, cô trộm nhìn dáng mẹ. Bà đang lò cò một chân, dáo dác tìm cô khắp các dãy phòng. Thi thoảng hụt chân, bà suýt ngã. Nước mắt cô ri rỉ ra hai khóe. Cô phải nói sao với mẹ về căn bệnh đây? Mẹ chỉ có một chân, nếu nghe xong có lẽ mẹ không đủ vững để đứng được. Cô đưa tay áo quệt hai dòng nước mắt thi nhau trượt dài trên má. Cô vùng chạy thật nhanh như một đứa trẻ. Gương mặt ráo hoảnh, cô mở miệng thật rộng. “Bác sỹ bảo con bị rong kinh. Uống hết số thuốc này là ổn..”. Da mặt giãn ra, người mẹ cười tươi tắn. “Mẹ biết con sẽ không sao mà”.
Dạo gần đây, cô hay nhìn tôi mỉm cười. Mỗi lần chèo ghe qua chỗ tôi, cô gái lại khe khẽ hát một vài câu rời rạc, đôi khi chắp nối lung tung. Giọng cô trầm và trong veo vẻo. Một góc miền quê lắng lại nơi cô, cứ mỗi lần nhìn cô, tôi lại nhớ quê đến nôn nao. Gió tạt chiếc ghe sát bờ kè. Tôi mừng rơn. Biết bao ngày chờ đợi, nay tôi mới có dịp trò chuyện với cô gái nhỏ. “Em ốm và xanh đi nhiều. Công việc cực quá phải không em?”. Sửa lại chiếc nón lá xộc xệch, cô gái thoáng buồn. “Tại dạo này em ít ăn…”. Cô trả lời gọn lỏn và đưa chân đẩy mái chèo thật nhanh. Tôi đứng xớ rớ, bứt rứt trong người vì không biết đã nói câu gì làm cô gái phật ý bỏ đi.
Mùa mưa sắp đến, gió cứ lừng lững như lực sỹ, chỉ chực quăng quật đồ đạc của mọi người xuống kênh đen. Một tấm tôn trên mái chòi của gia đình cô bị gió hất tung lên không. Trên nóc chòi, khoảng không hở ra rộng ngoác. Gió luồn vào trong chòi, cha cô nằm trùm mền, rên rỉ từng hồi. Cơn ho khan rút sạch sức lực của ông. Suốt tuần nay, ông chẳng ăn gì ngoài cháo. Mẹ cô ngồi đơ như khúc gỗ mục. Mắt bà vàng đục như nước sông mùa lũ. Gần đây, chồng bệnh, nhà túng thiếu, bà hay nổi cáu. Chị hai đi mò sắt, chỉ có mình Út ở nhà chơi. Bao nhiêu bực tức bà trút hết lên đầu con bé. Đến bữa cơm, không thấy Út, bà gọi treo trẻo. Vừa thấy con, bà xách cây quất vùn vụt. Bà tru tréo: “Từ mai trở đi mày theo chị hai đi mò sắt nghe con. Suốt ngày lêu lổng. Mày liệu hồn với tao”. Kéo bao sắt lên đến mạn bờ, một cơn đau âm ỉ kéo dài. Vấp phải cục đá, cô ngã dúi dụi xuống đất. Ôm bụng xuýt xoa, cô loạng choạng đứng dậy. Cô cố giữ cho bước chân thật vững. Những giọt máu lấm tấm in trên bãi cỏ xanh. Từ xa, nghe đến hai tiếng “mò sắt”, cô cuống cuồng.
- Út không đi đâu cả.
- Hết gạo rồi. Không đi làm ở nhà mà ôm nhau chết à! Nó lớn rồi, tập làm cho quen đi.
- Con nói bao nhiêu lần rồi. Có chết đói cũng không cho em đi mò sắt.
Bao nhiêu bực dọc, mệt mỏi trong người dồn lên tận cổ. Bà trút một hơi.
- Ừh. Chị em mày lớn rồi, xấu hổ, không dám đi mò sắt. Mai để đó tao đi. Có một chân tao cũng làm được…
Hai chị em rươm rướm nước mắt. Cô thút thít.
- Nghề này không có tương lai, mẹ đừng để em làm. Ít bữa nữa, con cũng lên bờ phụ quán cơm cho người ta.
- Ngay cả mày cũng muốn bỏ cái nhà nay đi. Đã vậy chúng mày biến hết đi. Mặc kệ hai đứa già này sống chết ra sao?
Nước mắt phủ đầy mặt, cô quay vội đi. Làm sao để mẹ hiểu khi mà căn bệnh ung thư như lũ sâu mọt, mỗi ngày đang rút dần sự sống của cô. Cha ốm. Nhà hết gạo. Một chân bị cụt, mẹ tự dày vò mình bởi suy nghĩ mẹ là người tàn phế, là gánh nặng áo cơm của cả gia đình. Mẹ sẽ ra sao nếu biết cô con gái, chỗ dựa duy nhất của cái gia đình khốn khổ này đang nhận án “tử hình”. Từng ngày mẹ sẽ khóc cạn nước mắt khi chứng kiến cái chết lạnh lùng đến gần con gái. Cô cố giấu những tiếng nấc ừng ực trong cổ. Giọng cô khan khản.
- Con quyết định rồi. Hai ngày nữa, con sẽ đi phụ quán cơm cho người ta. Mỗi tháng bao ăn ở, còn lại tiền lương con gởi về cho mẹ.
- Giờ mày lớn rồi, muốn đi đâu thì đi. Tao không quản được.
Cả tuần nay, dòng kênh đen kìn kịt hẳn đi. Nước kênh lặng tờ, đám rác ứ đọng lại trông như một dòng sông chết. Chiều nào tôi cũng ra bờ kè hóng gió và chờ đợi. Chiếc ghe xám xịt lừ lừ lướt qua, chở theo một ông già lọm thọm, người xanh chành như đám bèo tây. Tôi cố nhìn thật kỹ nhưng chỉ thấy mỗi mình ông già, không thấy cô gái gái trẻ đi cùng. Ngày trước có con gái bên cạnh, ghe trôi qua mặt lũ thanh niên chúng tôi. Ông già vênh váng, ra vẻ tự hào khi có con xinh đẹp. Nay ngược lại, ông thường cúi mặt lầm lũi. Trước có con gái chèo ghe, mò được cục sắt to bản, ông giơ lên cao khoe với con. Hai cha con họ cùng cười sằng sặc. Nay có vớ được vài cục sắt, ông cũng lẳng lặng quăng cái “xoảng” vào thùng. Gương mặt ông rúm ró, teo héo như lá khô. Có vài lần, ông già chèo ghe ra mại ngoài bến cảng, ông cắm ghe vào một góc. Lần đầu tiên, người ta thấy ông lên bờ. Ông rảo quanh các quán ăn rồi lại thui thủi xuống ghe. Từ ngày con gái đi, hôm nào mò sắt, ông cũng tranh thủ ra bến cảng tìm con. Ông hỏi thăm mãi nhưng chẳng ai biết có cô gái nào tên Thường cả.


- Nhanh tay lên mày. Con gái gì mò thấy sợ. Mướn chục đứa như mày chắc tao sớm đóng cửa.
Tiếng bà chủ quán cơm quát nạt um sùm. Lau nhưng giọt mồ hôi rỉ rả trên trán, cô cố nén cơn đau quặn thắt quanh bụng. Hai chân đá vào nhau xiêu vẹo, cô chếnh choáng như người nốc rượu quá đô. “Keng”, tiếng chén bát rơi xuống nền nhà, va vào nhau rổn rảng.
- Cái con này, mày làm ăn vậy hả?
- Cháu xin lỗi. Nay cháu bị trúng gió nên mệt quá.
Bà chủ phẩy tay lia lịa. “Chiều lấy lương rồi nghỉ đi. Nhận mấy đứa như mày vào làm, suốt ngày bệnh hoạn, phiền phức quá”. Cầm tháng lương trên tay, cô liêu xiêu bước đi. Nước mắt cô bắt đầu rơi lã chã. Hôm qua vô tình gặp bà mua ve chai, cô phong phanh nghe cha bị bệnh hen hành, cả tuần rồi không đi mò sắt. Mẹ cô lò dò một chân đi lượm bịch nilon quanh vỉa hè. Nghĩ đến cảnh bé Út ngồi nhễu nhão nước miếng vì đói còn cha nằm ho khục khặc cả ngày lẫn đêm. Mùa mưa đến, căn chòi thủng trước, dột sau. Đêm đêm, mẹ cô phải quấn áo mưa ngủ trên chiếc ghe mục. Nước mắt cô trào ra. Một cơn đau dài lan tỏa khắp cơ thể. Hai cánh tay cô khẳng khiu như hai trái so đũa, bấu chặt lấy cạnh giường. Cô tưởng như mớ nội tạng trong người đang bục vỡ từng mảnh. Cô gục mặt xuống giường, để mặc nước mắt ứa dài khắp mặt. Lần tìm viên thuốc giảm đau, cô nằm yên trên nền gạch lành lạnh, mặc cơn đói dày vò từng giờ. Nhìn quanh, dãy trọ trống hơ, trống hốc. Lúc này đây, cô thèm ăn một bát cháo nóng do chính tay mẹ nấu. Cô thèm cảm giác được mẹ gãi rân rân sống lưng hay luồn tay vào từng lọn tóc. Từ nay cô sẽ chỉ ăn một bữa, tháng lương này phải nguyên vẹn về đến tay cha mẹ cô. Tưởng tượng đến bữa ăn ngon miệng của người em và nụ cười giòn tan của nó, cô khe khẽ mỉm cười. Bên dưới ống quần cô, máu thấm đỏ nền gạch. Niềm vui tinh thần đã át dần cơn đau thể xác. Cô bắt đầu buồn ngủ. Đầu cô nặng trĩu. Cả cơn đau lẫn cơn đói thôi không còn hành hạ thân xác còm cõi của cô nữa. Cô lịm dần trong một giấc mơ màu hồng. Trong mộng mị, cô biến thành con bướm nhỏ bay quanh một vườn hoa dìu dịu hương thơm. Rồi bất chợt chú bướm bay lên cao, cao mãi và hóa thành một vầng mây trắng, lan tỏa ra khắp bầu trời. Cô ra đi nhẹ nhàng và thanh thản như một vầng mây.
Sáng nay, người mua ve chai gởi cho ông già mò sắt một bức thư của con gái. Trong chiếc phong bì trắng trẻo, có kẹp 1 triệu đồng được xếp thẳng thớm. Dòng chữ hơi nhòe, thi thoảng có sai chính tả nhưng ông đọc và hiểu được hết. Bao nhiêu năm nhìn con lớn lên, ông hiểu từng từ con ông nói dù đôi khi câu chữ có lấp lửng. Buổi chiều trên dòng kênh đen, gió vờn lên từng hồi. Một mái tôn bay vèo vèo theo gió. Túp lều rệu rạo hẳn đi. Bà vợ ngồi trên tấm phản cũ xì, lỗ rỗ vết thủng. Không hiểu sao hôm nay, ruột bà nóng cồn cào như có ai xát muối. Thấy khuôn mặt chồng hồ hởi, bà phát bực thêm. Từ xa, ông reo mừng như trẻ con được quà.
- Bà xem tôi đem về cái gì này?
- Có cái gì thì nói đại đi. Tôi ghét phải đoán lắm.
- Con Thường…
Bà nhảy dựng lên, miệng lắp bắp.
- Ông tìm thấy con Thường rồi à!
- Từ từ để tôi nói cho mà nghe. Con Thường vừa gởi cho hai ông bà mình một lá thư kèm theo một triệu đồng nữa. Ra chỗ sáng đi, tôi đọc cho bà nghe. Nó lên bờ làm cho người ta vậy mà lại tốt.
Đôi mắt nhấp nhem, ông cố nuốt lấy những dòng chữ mập mờ. “Cha mẹ đừng lo cho con. Con đã kiếm được việc làm ổn định. Người ta bao ăn ở nên tháng nào con cũng dư phần tiền lương. Bán quán cơm, đồ ăn nhiều lắm, con lơn được mấy ký. Con còn học được cách nấu ăn. Hôm nào về nhà, con sẽ nấu vài món thật ngon đãi cả nhà…”. Hai ông bà cười tủm tỉm theo từng dòng thư. Ngó thấy con gái út quần áo lấm lem bùn lầy, mặt mày bịu xịu. Bà nhanh nhảu quẩy giỏ đi chợ. Bà nghĩ thầm “Đã lâu rồi mình không để ý đến con Út”. Hôm nay biết tin con gái lớn vẫn khỏe, bà nhẹ nhõm cả người.


Trên bờ kênh, một người quen vẫy tay lia lịa. Bà nhướng mắt lên nhìn. Người phụ nữ đi như chạy, thở hùng hục, miệng mếu máo: “Chị Mười ơi! Con Thường nhà chị…”. Mỗi lần nghe đến tên con gái, mặt bà lại ngây ra, miệng bà há hốc, lưỡi líu lại: “Con Thường nó làm sao vậy cô?”. Người phụ nữ thở một hơi thật sâu, cố lấy lại bình tĩnh. “Cháu nó chết rồi chị ơi!”. Bà đổ sụp xuống như cái cây vừa bị đốn gốc. Giỏ đồ ăn lăn lốc xuống đáy kênh đen ngòm ngõm. Bà nói bằng tiếng gió trong cổ.
- Con tôi sao mà chết…?
-Tôi nghe người trên đó họ bảo cháu bị bệnh ung thư cổ tử cung giai đoạn cuối. Nó sợ liên lụy hai bác nên trốn xuống Bình Dương làm.
- Ai nói với cô là con Thường nhà tôi? Nó vừa viết thư về, bảo vẫn mạnh khỏe còn lên ký nữa mà.
- Trời ạ! Chủ nhà trọ họ đưa nó vào nhà xác bệnh viện rồi. Cháu tôi ở gần đó nhắn tôi báo cho gia đình chị biết, lên mà đưa con về. Ai dám lấy cái chết ra mà đùa hả chị.
- Khốn nạn con với cái. Sao bị bệnh mà nó lại giấu tôi. Thường ơi! Có đói khát, mẹ cũng lo cho con rau cháo qua ngày được mà. Sao con lại âm thầm chịu đựng bệnh tật một mình. Con ơi là con!
Bà không còn đủ mạnh mẽ để lóc cóc bước đi bằng một chân. Lần đầu tiên kể từ khi bị tai nạn phải cưa bỏ chân, bà bò lê lết dưới mặt đường. Nước mắt bà ràn rụa khắp mặt. Tiếng nấc không bật ra ngoài được, cứ ừng ực trong cổ. Nụ cười trong trẻo và câu nói cuối cùng trước khi đi làm xa của con gái cứ váng vất trong đầu bà. “Con không sao đâu. Trời ơi! Khốn nạn thân con tôi. Nó bệnh nặng mà phải nhắt nhín tiền gởi về cho cha mẹ”. Nghĩ đến cảnh con gái trước khi chết còn phải nhịn đói, nhịn khát, nước mắt bà đua nhau chảy dài khắp mặt. Những ngày sau đó, trên dòng kênh đen, người ta nghe tiếng một người phụ nữ ngồi khóc vật vã từ tờ mờ sáng đến tận đêm khuya.
Chiếc thuyền giấy đựng những bông hoa hồng trắng muốt lững thững trôi ra sông Sài Gòn. Tôi ngắm nhìn con thuyền nhỏ mà nhớ cô gái đến nao lòng. Từ nay, trên dòng kênh đen tôi không bao giờ thấy em nữa. Gần đó, cha mẹ cô đang lúi húi nhổ những chiếc cọc gỗ của căn chòi cũ. Ông nhìn tôi ngập ngừng: “Dù sao cũng cảm ơn chú đã giúp đỡ tôi ít vốn. Từ nay nhà tôi bỏ luôn nghề mò sắt. Cái nghề nghiệt quá chú ơi! Cả nhà lên bờ bán vé số, sẵn xin cho con Út vào lớp học tình thương. Hồi còn sống, ngày nào chị hai cũng nhắc tôi cho nó đi học”. Giọng người đàn ông chùng xuống.
Quá trưa, nắng lấp loáng cả dòng kênh. Dòng nước đen ngòm được phủ lên một lớp áo nắng vàng sóng sánh. Gia đình người đàn ông mò sắt đã đi khuất tự bao giờ, để lại trên nền căn chòi cũ những tấm nilon rách nham nhở. Bên dưới, dòng kênh đen vẫn vặn mình chảy miết như chưa hề cõng những mảnh đời bé nhỏ trên lưng.

NN

Saturday, May 2, 2015

Thương nhớ miền tây










Cũng đã lâu lắm rồi Tôi không về Miền Tây. Giờ tự dưng lại muốn cởi giày đi chân đất, muốn nghiêng mình khiêu vũ với những giai điệu của đồng quê, muốn khề khà với bạn bè bên chén trà nóng hổi dưới ánh trăng vàng và nồng nàn cùng gió…


Là con gái xứ biển chính hiệu nhưng nơi chôn nhau cắt rốn của tôi lại là miền Tây sông nước. Có lẽ vì vậy mà tôi đã dành cho miền Tây những tình cảm ưu ái trong lòng. Tình cảm ấy mênh mông lắm, mặn mà lắm. Đấy là tình yêu của người con gái xứ biển dành cho mảnh đất miền Tây phủ trắng những cánh cò.



Chiều dần buông, khi ánh nắng đã bắt đầu trở nên dịu dàng hơn. Tôi thích nằm gối đầu trên cỏ, tóc xõa dài buông lơi, nhắm mắt lại tận hưởng tất cả các mùi thơm của đồng, của ruộng, của mênh mông sông nước. Tôi cứ mặc kệ để cho gió nhẹ nhàng mơn man, ôm ấp tôi theo mọi cung bậc trầm bổng đang trải dài trên thân thể. Tôi đã bắt đầu nghe thấy mùi hương của cỏ dại, cánh mũi cứ phập phồng nghe mùi thơm cây lúa đang độ kì căng tròn sữa mẹ.


Vào mỗi buổi sớm mai, khi bình minh đã bắt đầu ló dạng, tôi thả mình đi theo những chuyến đò ngang dọc trên dòng sông Hậu. Tôi thích nhìn ngắm các cô bé nữ sinh mon men trên cây cầu khỉ lắc lư theo mỗi nhịp đi, thích nhìn chiếc áo dài trắng tinh khôi đi kèm với chiếc quần đen a-lãnh, trên đầu lại nghiêng nghiêng vành nón lá thẹn thùng dưới cái nắng của mặt trời. Đẹp! Nếu có thêm một chút năng khiếu về vẽ tôi nghĩ mình sẽ là một họa sĩ không tồi. Tôi thích vẽ mọi thứ bằng chính trái tim đang rạo rực trăn trở trong lòng.



Lần đầu tiên về đến miền Tây phải đi qua những cây cầu khỉ, tôi đã cởi đôi giày cao gót của mình, sau đó lấy dây chuối cột chúng lại và treo lủng lẳng ở ngay cổ. Tôi đã bắt đầu bò từ bên đây cầu qua bên kia cầu. Qua được rồi tôi mới biết là mình còn sống. Giờ thì mới hiểu được "cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi" là như thế nào rồi đấy.


Tôi đã học cách chèo đò khi bao người đã bỏ công chỉ dẫn tôi rất ư là tận tình, vậy mà đến lúc thực hành tôi cũng chỉ có thể làm cho đò quay mòng mòng tại chỗ, chỉ xém tí xíu nữa thôi là tôi đã cho cái đội ngũ huấn luyện của tôi lọt đò rồi ấy chứ. Cuối cùng thì tôi cũng đã nghiệm ra rằng nếu không muốn chết thì tôi phải ngoan ngoãn mà buông chèo cho người khác lái. Công việc duy nhất của tôi là chỉ có thể ngắm cảnh, hay hái một ít bông súng mang về chuẩn bị cho nồi lẩu chiều nay và chôm chỉa thêm một vài trái đừa nước để tối ngồi hú hí với bạn bè bên ánh trăng non.

Tôi nhớ cả những cái "cầu tõm" ở miền Tây. Thú thật lần đầu tiên đến ấy tôi thà chịu "táo bón" còn hơn chứ không thể nào "đi" một cách tự nhiên với những khu nhà vệ sinh, chỉ che "ở dưới" còn bên trên "mặt mũi" thì cứ lộ thiên giữa trời và đất, giữa bàn dân thiên hạ, ai đi ngang qua cũng có thể gật đầu chào hỏi. Giờ thì tôi cũng đã bắt đầu quen dần, tôi biết nhập gia thì phải tùy tục, xem ra thì nó cũng thú vị ra phết ấy chứ - vừa "đi" vừa ngắm cảnh hòa mình cùng với thiên nhiên đến thế rồi còn gì.







Chẳng biết tự bao giờ, tôi đã yêu thích ca cổ, ca cải lương và nhất là những điệu lý mượt mà của Miền Tây Nam Bộ. Có lẽ bắt đầu từ cái thuở tôi còn nằm trong bụng mẹ. Mẹ đã sinh tôi ra ngay trên chính cái mảnh đất màu mỡ của đờn ca tài tử này. Khi lớn lên tôi đã nhiều lần vác balô tìm về nơi chôn nhau cắt rốn. Tôi đã lang thang một mình trên những chuyến xe đò trải dài dọc các tỉnh miền Tây. Tôi đã đến viếng mộ của ông Sáu Lầu vào một buổi chiều mùa thu năm ấy. Tôi đã ngồi đấy lẩm nhẩm cùng vợ chồng ông những câu hát bắt đầu là nguồn cội cho sân khấu cải lương" "Từ là từ phu tướng,bảo kiếm sắc phong lên đàng". Ông đã viết nên những lời ca day dứt ấy bằng chính tình yêu của ông dành cho vợ, ông viết nên từ chính nỗi lòng của một người vợ khi phải xa chồng. Bài hát ấy đã lưu truyền mãi cho đến tận bây giờ để cho một kẻ hậu sinh như tôi khi nghe đến cũng phải nhói lòng.

Đêm giữa cái cảnh trời mây sông nước, giữa đồng ruộng mênh mông sau lũy tre làng, sauhàng bần nghiêng nghiêng bên dòng sông lặng lẽ. Tôi thả hồn mình theo chuyến đò trôi xuôi, êm ả theo dòng nước lồng lộng trăng rằm, trăng sóng sánh hết cả mặt sông, thật nên thơ và tĩnh mịch, tiếng lá dừa nước hai bên bờ khua nhè nhẹ vào nhau, rì rào trong đêm tối. Giữa một đêm trăng huyền ảo như thế này nằm nghe một vài câu vọng cổ, réo rắt hòa nhịp cùng tiếng đàn kìm thì còn gì say sưa hơn thế.




Tôi yêu quý biết bao những tình cảm yêu thương nồng hậu, chân chất của người Mẹ quê với chiếc áo bà ba sờn vai vì quang gánh. Mẹ đã ôm tôi vào lòng khi mỗi lần tôi đến. Tôi nghe thấy cả mùi bùn, mùi mồ hôi được toát ra từ cơ thể Mẹ. Chính cái "mùi" chân phương ấy đã cho tôi cái cảm giác quyến luyến không rời. Cứ mỗi khi chếch choáng trong lòng tôi lại muốn quay về với Mẹ, tìm cho mình những giây phút bình yên.

Anh à! Tôi đã thích đọc cho anh nghe những câu chuyện về miền Tây sông nước vì tôi đã từng nghĩ, từng ước mong rằng vào một ngày nào đó không xa. Tôi sẽ cùng anh dìu nhau đi qua những cây cầu khỉ, sẽ cùng anh nằm chồng chềnh trên một con đò nhỏ để cùng ngắm trời, ngắm nước, ngắm mây và sẽ cùng anh khiêu vũ dưới ánh trăng đầy, ngay bên dòng sông Hậu tần tảo, hiền hòa và thơ mộng biết bao. Nhưng giờ ngày ấy đã xa, xa lắm rồi anh ạ. Tôi sẽ lại cứ lang thang, lại cứ để mình già thêm về chính những trải nghiệm trong đời. Tôi sẽ mãi là người lữ khách độc hành mãi miết đi tìm cho mình những cơ duyên mà tôi biết có đi trọn cuộc đời này tôi cũng sẽ không bao giờ tìm được...

Saturday, April 18, 2015

Hoa Shibazakura lãng mạn ở Nhật Bản




Chắc hẳn ai cũng cảm thấy nao lòng trước vẻ đẹp rực rỡ khi được dạo bước trên những thiên hoa mùa hè này.


Thiên nhiên luôn mang trên mình một vẻ đẹp rực rỡ, quyến rũ, có sức lôi cuốn kỳ lạ. Chắc hẳn du khách sẽ như lạc vào chốn bồng lai tiên cảnh khi hòa mình vào những thiên đường hoa rực rỡ sắc màu và ngập tràn hương thơm trải dài tới tận chân trời.
 

 

Cứ vào độ hè sang, khoảng tháng 4 - 5 hàng năm, hoa chi anh lại nở rợp trời tại khu công viên Hitsujiyama . Vẻ đẹp rực rỡ đó sẽ làm mê đắm bất cứ du khách nào may mắn đặt chân đến đây.

Hoa chi anh còn được gọi là Shibazakura theo cách gọi của người Nhật, hoa cao từ 20 - 30cm. Do vậy khi trồng san sát nhau, chúng có thể tạo ra một thảm cây phủ kín mặt đất và sườn đồi.








Loài hoa 5 cánh đơn mỏng manh này có nhiều màu sắc khác nhau: màu tím, tím viền trắng, tím đỏ, hồng hay trắng... Khi được trồng đan xen, chúng tạo nên một bức tranh tổng thể, hài hòa đa sắc màu, trải dài trên diện tích khoảng 16.000 mét vuông của công viên Hitsujiyama.

Friday, April 17, 2015

Dòng sông ngũ sắc tuyệt đẹp


Cano Cristales là một trong những con sông tuyệt vời nhất trên thế giới, được gọi với nhiều cái tên như "sông ngũ sắc", "sông cầu vồng" hay “dòng sông bắt nguồn từ thiên đường”.




Cano Cristales là một dòng sông ở Colombia, nằm ở công viên quốc gia Serrania de la Macarena thuộc thành phố La Macarena. Đây là con sông mang tính năng sinh học độc đáo, được bao phủ bởi tảo đầy màu sắc.

Con sông này cũng bình thường không có gì khác biệt lắm so với những con sông khác, cũng một một giường đá phủ đầy rong rêu xỉn màu xanh lá cây mà ta có thể nhìn thấy rõ bên dưới lòng sông. Tuy nhiên, trong một khoảng thời gian ngắn nhất định trong năm, cụ thể là giữa mùa mưa và mùa khô khi mực nước của sông ổn định thì cả một dòng sông bùng nổ sắc màu rực rỡ của tảo sinh sôi nảy nở, biến dòng sông thành một dải cầu vồng sống mềm mại đáng kinh ngạc.

Dòng chảy của sông quy định lượng ánh sáng mặt trời đến tảo và trong mùa mưa, nó giữ những tia nắng mặt trời xuống tận dưới đáy sông còn trong mùa khô, mực nước quá nông khó duy trì cuộc sống của các loài thủy sinh đặc biệt là tảo, rong rêu. Nhưng sự giao thoa giữa hai mùa mưa và khô là điều kiện lí tưởng cho cuộc sống dưới sông Cano Cristales phát triển. Trong thời gian này, toàn bộ lòng sông được bao phủ bởi một loạt các màu sắc khác nhau, màu xanh biển, xanh lá cây, đỏ, vàng và vô số màu sắc khác chen ở giữa những gam màu chính này. Nhưng có một điều đáng tiếc là phép lạ đầy màu sắc này chỉ kéo dài vỏn vẹn vài ngày giữa mùa mưa và mùa khô. Nắm bắt quang cảnh tuyệt vời này chỉ có thể theo dõi quy luật thời tiết giữa hai mùa.

Trong nhiều năm liền, các địa điểm tham quan này bị đóng cửa không cho khách du lịch đến vì hoạt động quân sự trong khu vực cùng với những lo ngại về tác động của giao thông du lịch không được kiểm soát. Nhưng đến năm 2009, thì khu vực này đã được mở cửa trở lại cho du khách tham quan và ngày nay có một số cơ quan du lịch Colombia mở ra những chuyến bay đưa du khách tới thành phố La Macarena.

Từ thành phố La Macarena, du khách có thể lựa chọn cho mình những cách di chuyển khác nhau chẳng hạn như cưỡi ngựa, cưỡi lừa hay đi bộ dưới sự trợ giúp của hướng dẫn viên du lịch để du khách tiếp cận công viên quốc gia Serrania de la Macarena, nơi mà dòng sông Cano Cristales đang ẩn mình, rộng 20m và dài 100m. Có điều là du khách chỉ được tham quan cả ngày nhưng không được phép nghỉ lại qua đêm hay nấu ăn gì cả. Công viên này đặc biệt nghiêm cấm tiếng ồn ào cũng như là việc xả rác dưới mọi hình thức.























Wednesday, April 15, 2015

Nhật kí chàng tìm vợ


Tôi, một gã đàn ông phải viết nhật kí về hành trình tìm vợ của mình, bởi tôi cho rằng cái sự lấy vợ của đàn ông là đáng coi trọng lắm.
Đàn ông lấy được vợ tốt coi như đã thành công hơn người. Nhưng dù thế tôi cũng đã mong rằng, nhật kí này chẳng phải ghi dài, chỉ một cô mà “ăn ngay” thì thật là phúc đức.
Cô bé xóm bên và con chó đoản mệnh
Nhắc đến em này tôi lại càng thấy mình thèm ăn thịt chó. Chả là ngày ấy, gã trai tân là tôi mới bước sang tuổi 20. Thanh niên trong làng đi sinh hoạt văn hóa văn nghệ, tôi có quen một cô bé kém mình 2 tuổi. Hỏi ra mới biết nhà em ấy ở xóm bên.
“Tháng lại ngày qua, tình yêu chớm nở”, tối ấy, tôi mon men sang tìm nhà em vào chơi cho đàng hoàng, ra mắt bố em cho tử tế. Ai dè mới đi đến đầu xóm, con chó nhà ai lao ra đuổi tới tấp. Khỉ thật, có mỗi cái quần mồi, giờ nó đuổi mà cắn phải coi như xong.
Ba máu sáu cơn, còn mày thì mất tao, tôi vơ nửa viên gạch ném nó. Thực ra định bụng tôi chỉ dọa để nó sợ mà chạy đi, ai dè nó lăn ra kêu ăng ẳng. Chưa kịp định thần, một bác trung tuổi lao ra, nhìn con chó và nhìn…tôi. Thế là sau đó tôi được mời vào nhà để “uống nước” và giải quyết. Nào ngờ, người bưng nước ra để tôi và bác “nói chuyện” lại chính là em. Cuộc tình của tôi coi như chấm hết.
Hơn một năm sau, em lấy chồng. Giờ đây mỗi lần ăn thịt chó tôi lại rất nhớ em.
Cô em với giấc mộng tình yêu cổ tích
Cuộc tình thứ nhất chấm dứt, hai năm sau tôi mới đem lòng yêu người khác. Đó là một cô bé 21 tuổi. Khi ấy tôi 23. Trông em có vẻ trẻ so với tuổi, lúc nào cũng hồn nhiên và mơ mộng. Có lẽ tôi ấn tượng với em và yêu em cũng vì thế.
Nhưng rồi, càng yêu em tôi càng nhận ra rằng, em chỉ có thể làm một con búp bê để tôi nâng niu, chứ làm vợ thì thật khó. Làm sao em có thể làm vợ khi suốt ngày em nói chuyện về phim Hàn Quốc. Em dạy tôi phải mặc quần áo kiểu Hàn Quốc, yêu kiểu Hàn Quốc, thậm chí hôn kiểu Hàn Quốc cho…đẹp. Biết khó lòng lấy em làm vợ được, tôi dần dần chuyển tình yêu sang tình bạn, coi em như cô em gái bé bỏng và dễ thương.
Tôi lên thành phố đi làm, nửa năm sau nghe tin em đi lấy chồng Hàn Quốc qua môi giới. Tôi đã nghĩ về em với khung cảnh em mặc quần áo Hàn Quốc và hôn chồng bằng kiểu Hàn Quốc. Giấc mơ cổ tích về tình yêu của em không biết có được thành hiện thực hay không khi mà tôi thấy mọi người nói sang đó, gia đình chồng bắt em làm việc vất vả lắm.
Người phụ nữ và con số 17
Khi gặp và yêu em tôi bước sang tuổi 25. Em đẹp, hiền hòa và đảm đang. Em nhanh nhẹn, hoạt bát và ăn nói nhẹ nhàng dễ nghe. Càng quen và yêu em lâu, tôi càng nhận ra em đúng là người vợ lí tưởng. Khó mà kiếm đâu được người đẹp người đẹp nết như vậy. Em có cái gì đó chững chạc và từng trải hơn những cô gái cùng tuổi khác. Yêu em được nửa năm, hôm đó, tôi mang ít quà sang gia đình em định thưa chuyện. Đi đến đầu ngõ, hỏi thăm một cô trung tuổi, ai dè câu nói của cô ấy làm tôi chết lặng: “Thế hỏi nhà chồng nó hay nhà nó, mà giờ nó không ở nhà chồng đâu, lấy chồng được có 17 ngày là li thân, giờ nó về nhà nó ở rồi, đang đợi làm thủ tục li hôn, tôi chỉ cho nhà mẹ đẻ nó nhé…”.
Cô ấy cứ nói nhưng tôi chẳng còn nghe thấy gì nữa, tai ù hết lên. Thì ra cô ấy đã có chồng, thảo nào thấy cô ấy có vẻ từng trải như vậy. Tôi quay về, nghe ngóng, hơn nửa năm sau vẫn không thấy cô ấy ly dị chồng. Tôi lại ngậm ngùi chia tay với người con gái ấy

Chẳng hiểu số tôi thế nào mà quá tam ba bận không kiếm được một cô cho tử tế. Thành thử tôi chán, thây kệ mọi chuyện. Hai năm liền tôi chẳng thiết yêu đương gì hết. Đến một hôm, đang nằm lì trong phòng xem chưởng, mẹ gọi tôi xuống nhà có khách. Cứ ngỡ mấy thằng bạn tới rủ đi chơi nào ngờ một cô gái ngồi chờ tôi. Nói chuyện hồi lâu mới rõ, em này là con của bạn bố tôi. Nhìn tướng tá thì cũng ổn, ăn nói cũng được và rất cá tính. Nhưng mà tôi không ưng cho lắm. Ai đời, con gái lại đến nhà con trai chơi trước bao giờ. Đành là hai bên bố mẹ có ý mối lái, nhưng lẽ ra phải là tôi đến nhà cô ấy trước chứ ai lại…
Sau tối hôm đó, em còn đến nhà tôi 3 lần nữa. Mỗi lần cách nhau 3 hôm. Sau đó, em mất hút. Gần 2 tháng trời không thấy em qua lại. Tự nhiên tôi lại thấy nhớ em lạ thường. Cũng tự nhiên tôi thấy em sao mà dễ thương, xin xắn và cũng khéo léo đấy chứ. Nhưng sao em lại không đến nữa, lẽ nào em… không ưng tôi? Hay em lại chuẩn bị lấy chồng?
Không thể ngồi nhà chờ đợi, theo chỉ đường của bố, tôi lần tới nhà em. Em vẫn vậy. Chưa lấy chồng. (Thật may là như vậy!). Mấy ngày sau, tôi bày tỏ tình cảm rồi nhờ bố mẹ thưa chuyện giúp với hai bác bên đó. Lúc ấy, tôi thấy mình yêu em thực sự chứ không phải vì sợ cái số ế vợ nó đeo đuổi. Em ra chiều ưng thuận.
Chúng tôi tìm hiểu nhau 7 tháng và giờ thì em là…vợ tôi. Lấy nhau rồi tôi mới dám hỏi em vì sao ngày ấy em lại lần đến nhà tôi trước. Vợ tôi trả lời: “Không thích cái kiểu ngồi ở nhà cho người ta đến xem mặt. Muốn tự khẳng định mình rồi tùy vào sự lựa chọn của đối phương”.
Ra là thế, em đến tìm tôi trước như để quảng cáo, sau đó để tôi có thời gian suy ngẫm và lựa chọn. Có ai ngờ tôi lặn lội tìm vợ bao năm không được, mà chỉ ở nhà vợ tìm đến tận nơi. Hay thật, hóa ra cái sự nên vợ nên chồng nhiều khi đúng là một chữ duyên mà thành.

Một người lạ

Sáng đọc một bài báo có đoạn: "Nếu yêu, phải là yêu ngay từ cái nhìn đầu tiên. Còn nếu sau một thời gian quen biết, đẩy đưa tán tỉnh, đắn đo suy xét rồi mới quyết định, đó chỉ là xiêu lòng, chỉ là tìm được đối tác...
... Nếu ngay từ đầu, khi hoàn toàn chưa biết gì về đối phương mà đã cảm thấy người ấy gắn bó với mình, tôi nghĩ đó là nhân duyên. Cảm xúc đặc biệt trong giây phút ấy, bản thân nó là món quà vô giá của thượng đế mà không phải ai cũng có cơ hội nếm trải...

Thấy tiếc cho những ai may mắn được "nếm" rồi lãng quên cảm giác ấy.
Sài Gòn rậm rịch chuyển mình sang đông. Cái đông của Sài Gòn ngồ ngộ, chẳng ra đông, nhưng suy cho cùng cũng có cái đáng yêu của nó. Anh cảm nhận được cái mát lạnh nhẹ nhàng ngắn ngủi đầu ngày khi phóng xe đi làm mỗi sáng, rồi lãng quên ngay sau đó.
Anh, thực tế như một nửa "không đẹp" của thế giới. Cảm nhận, cũng thích... nhưng không để tâm, không mơ mộng. Công việc hiện tại không khiến anh thực sự thỏa mãn những tham vọng, nhưng nó đủ bận rộn để anh không có được những phút rỗi rãi để "chán".
Ngày ngày, anh cũng bị cái guồng quay hối hả của Sài Gòn cuốn theo. Sáng thức dậy đi làm, trưa tranh thủ ăn vội rồi chợt mắt, chiều xong việc nếu không bạn bè cà phê thì về nhà chúi đầu vào cái máy tính. Chỉ vậy! Tốt nghiệp đi làm đã vài năm, hài hước, vui vẻ, bề ngoài không được "nghiêng thành" thì cũng xếp vào loại dễ nhìn, không đặt ra tiêu chuẩn... thế nhưng, vẫn ế. Giải thích cho cái sự độc thân ấy, anh bảo chỉ tại cái số. Đã lâu lắm anh không có cảm giác rung động kể từ khi chia tay mối tình đầu từ hồi phổ thông.
Cũng khó để dẫn dắt đến đoạn anh bắt đầu nhận ra có cảm giác gì đó khang khác với cô đồng nghiệp mới gặp. Nhưng, vì cũng thuộc một nửa "không đẹp" của thế giới, nên không mơ mộng... Anh chỉ biết thấy vui lạ thường vì tiếng cười giòn tan vì những câu nói vu vơ, tếu tếu. Anh chỉ biết giờ ngủ trưa bây giờ bị cắt giảm 15/45 phút cho mấy trò đua games. Cũng chỉ biết tự nhiên muốn share mấy cái hình quái quái, mấy câu chuyện tếu trên mạng; tự nhiên muốn chọc cho ai đó cãi chí chóe, chí chóe... khói bốc lên đầu... Nhiều lúc anh cũng suy nghĩ vu vơ... nhưng rồi tự cười mình vớ vẩn: "Có gì đâu!"
Anh quen dần với những cảm giác mới, nhưng cũng chỉ để cảm giác ấy dễ chịu như hóng cơn gió đông Sài Gòn buổi sớm...

23 tuổi, vác cái bằng loại khá trên tay, tà tà đi xin việc. Với cô, chẳng có gì phải gấp. Có việc làm, mỗi tháng được nhận lương cũng tốt, không có việc làm ngay thì cứ ở nhà mẹ nuôi thêm vài bữa và tận hưởng "mùa hè cuối cùng" cũng chẳng phải quá tốt sao!
Cũng tham vọng, cũng muốn thành công giàu có, nhưng đó không phải là mục tiêu của cô trong năm đầu đi làm. Năm đầu tiên là lớp học vỡ lòng để làm quen nếp sống mới, để học hỏi, để thỏa cái tò mò tự lập. Cô được nhận xét quá vô tư so với tuổi 23, quá sôi động so với cái vỏ ngoài là con gái và cô biết vậy, cô muốn vậy, cô hài lòng vì đã... quá như thế.
Không xinh đến "cá lặn" nhưng được cái lúc nào cũng tươi tắn, vui vẻ... Không đặt ra "tiêu chuẩn", không nhút nhát, không khép kín... nhưng, 23 và không một mảnh tình vắt vai. Giải thích cho cái sự "ế" cô bảo "chúng ta hãy còn nhiều thời gian..."
Lại một lần nữa thấy thật khó để dẫn dắt đến đoạn bỗng nhiên cô bớt nói luyến thoắng, bớt cười ngặt nghẽo để để ý xem người ta có đang nghe không, có cười không, có vui không... và tự cười mình vớ vẩn: "Cớ sao phải vậy!".
Cô thấy thích mấy câu nói đùa tỉnh rụi của "chú ấy" phòng bên cạnh, nó khiến cô không muốn cũng phải cười. Tự nhiên hình thành cái thói quen thường xuyên vào check mail xem có cái hình ngồ ngộ, có câu chuyện vui vui... mà "chú ấy" gửi không. Đôi lúc cô bắt gặp mình suy nghĩ, rồi cười một mình, rồi tưởng tượng... nhưng rồi lại cười mình: "Có gì đâu, vì đó là "người lạ" nên cảm giác tất nhiên phải mới..."
Cô quen dần với những "niềm vui nhỏ" và cũng chỉ để nó dừng lại ở ngưỡng "vô tư"...

Có khi nào bất chợt giữa phố đông, ta dừng lại để nhận ra "một người lạ" như thế?

Lòng tin

Có một người diễn viên già đã về hưu và sống độc thân. Mùa hạ năm ấy ông tìm về một làng vắng vẻ ở vùng núi, sống với gia đình người em là giáo viên cấp I trường làng.
Mỗi buổi chiều, ông thường ra chơi nơi bãi cỏ vắng lặng ngoài thung lũng. Ở đây, chiều nào ông cũng thấy một chú bé ra ngồi đợi đoàn tàu chạy qua thung lũng, trước khi rẽ vào những vách đá đến phía ga trên.
Chú bé hồi hộp đợi. Đoàn tàu phủ đầy bụi đường với những toa đông đúc hành khách như một thế giới khác lạ, ầm ầm lướt qua thung lũng. Chú bé vụt đứng dậy, háo hức đưa tay vẫy, chỉ mong có một hành khách nào đó vẫy lại chú. Nhưng hành khách - mệt mỏi vì suốt một ngày trên đường- chẳng ai để ý vẫy lại chú bé không quen biết.
Hôm sau, rồi hôm sau, hôm sau nữa, hôm nào ông già cũng thấy chú bé ra vẫy và vẫn không một hành khách nào vẫy lại. Nhìn nét mặt thất vọng của chú bé, tim người diễn viên già như thắt lại. Ông nghĩ: "Không gì đau lòng bằng việc thấy một em bé thất vọng, đừng để trẻ con mất lòng tin ở đời sống, ở con người."
Hôm sau, người em thấy ông giở chiếc vali hoá trang ra. Ông dán lên mép một bộ râu giả, đeo kính, mượn ở đâu một chiếc áo veston cũ, mặc vào rồi chống gậy đi. Ông đi nhờ chuyến xe ngựa của trạm, lên tàu đi ngược lên ga trên. Ngồi sát cửa sổ toa tàu, ông thầm nghĩ: " Đây là vai kịch cuối cùng của mình, cũng như nhiều lần nhà hát thường phân cho mình, một vai phụ, một vai rất bình thường, một hành khách giữa bao hành khách đi tàu..."
Qua cái thung lũng có chú bé đang đứng vẫy, người diễn viên già nhoài người ra, cười, đưa tay vẫy lại chú bé. Ông thấy chú bé mừng cuống quít, nhẩy cẫng lên, đưa cả hai tay vẫy mãi.
Con tàu đi xa. Người diễn viên già trào nước mắt cảm động hơn bất cứ một đêm diễn huy hoàng nào ở nhà hát. Đây là vai kịch cuối cùng của ông, một vai phụ, một vai không có lời, một vai không đáng kể nhưng đã làm cho chú bé kia vui sướng, đã đáp lại tâm hồn chú bé và chú sẽ không mất lòng tin ở cuộc đời.
PS:Những người xung quanh chỉ là tấm gương phản chiếu chính bạn: Bạn không thể yêu hay ghét điều gì đó ở một người khác trừ khi điều đó phản ánh điều mà bạn yêu, ghét ở chính bản thân mình.